<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>SẢN PHẨM FUCOIDAN &#187; Sức khỏe và đời sống</title>
	<atom:link href="http://sanphamfucoidan.com/category/shop/suc-khoe-va-doi-song/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://sanphamfucoidan.com</link>
	<description>Thực Phẩm Bảo Vệ Sức Khỏe</description>
	<lastBuildDate>Sat, 19 Jun 2021 07:39:39 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi-VN</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.6.1</generator>
		<item>
		<title>Lễ trao giải VIFOTEC cho công trình nghiên cứu công nghệ sản xuất Fucoidan</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/le-trao-giai-vifotec-cho-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/le-trao-giai-vifotec-cho-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 16:00:43 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=388</guid>
		<description><![CDATA[]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><iframe src="//www.youtube.com/embed/9AtaNyt-_lQ" height="315" width="420" allowfullscreen="" frameborder="0"></iframe></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/le-trao-giai-vifotec-cho-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phóng sự VTV2 về công trình nghiên cứu công nghệ sản xuất Fucoidan</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/phong-su-vtv2-ve-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/phong-su-vtv2-ve-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:52:11 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=384</guid>
		<description><![CDATA[]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><iframe src="//www.youtube.com/embed/-LY_-QZftzw" height="315" width="420" allowfullscreen="" frameborder="0"></iframe></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/phong-su-vtv2-ve-cong-trinh-nghien-cuu-cong-nghe-san-xuat-fucoidan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ba khả năng chính cuả Fucoidan với ung thư</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/ba-kha-nang-chinh-cua-fucoidan-voi-ung-thu/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/ba-kha-nang-chinh-cua-fucoidan-voi-ung-thu/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:51:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=383</guid>
		<description><![CDATA[Tạo ta sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) trong các tế bào ung thư. Nâng cao khả năng miễn dịch, ức chế sự hình thành và phát triển các mạch máu mới (Angiogenesis). Giảm các tác dụng<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/ba-kha-nang-chinh-cua-fucoidan-voi-ung-thu/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;"><strong>Tạo ta sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) trong các tế bào ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Nâng cao khả năng miễn dịch, ức chế sự hình thành và phát triển các mạch máu mới (Angiogenesis).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Giảm các tác dụng phụ của hoá trị liệu và phóng xạ trị liệu.</strong></div>
<div style="text-align: justify;">
<div><strong> </strong></div>
</div>
<div style="text-align: justify;"><strong>LỜI TỰA</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tôi rất mừng vì cuốn sách nhỏ này được xuất bản bằng tiếng Anh.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Thực ra, trước đây, tôi không tin vào bất kỳ thành phần bổ sung cho khẩu phần ăn nào.Tuy nhiên, Fucoidan đã khiến tôi thay đổi suy nghĩ của mình.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tôi đã bắt đầu sử dụng Fucidan làm thuốc chữa bệnh ung thư ở Nhật Bản.Từ khi sử dụng Fucoidan, tôi lại nhìn thấy các bệnh nhân của tôi cười. Mục đích của phương pháp điều trị ung thư này không chỉ ngăn chặn hay loại trừ ung thư mà còn duy trì một cuộc sống tốt cho các bệnh nhân và gia đình người bệnh. Tôi luôn hài lòng khi nhìn thấy nụ cưới trở lại trên khuôn mặt của các bệnh nhân. Hơn thế nữa, tôi rất vui khi nghe được những phản hồi đáng mừng từ phía những bệnh nhân của tôi khi khối u của họ đã bị ức chế và đã giảm, đồng thời các tác dụng phụ của hoá trị liệu và phóng xạ trị liệu cũng giảm. Điều quan trọng là điều trị cho các bệnh nhân có hiệu quả, loại bỏ hoặc giảm được các tác dụng phụ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Do đó, tôi rất vui mừng được giới thiệu Fucoidan &#8211; loại thực phẩm tuyệt vời này không chỉ cho người Nhật mà còn cho cả người Mỹ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>           Tiến sỹ Daisuke Tachikawa</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>           Tháng 3 năm 2007</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>           Bản quyền © năm 2007 thuộc về Daisuke Tachikawa.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cuốn sách đã được đăng ký bản quyền. Không ai có quyền tái xuất bản, lưu trữ hoặc chuyển thể dưới bất kỳ hình thức nào mà không được sự đồng ý của tác giả.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Thông tin của cuốn sách này chỉ được sử dụng cho các mục đích giáo dục và nó không được khuyên dùng trong các phương pháp trị bệnh hoặc chuẩn đoán bệnh. Tất cả các vấn đề liên quan đến sức khoẻ thể chất và tinh thần cần được một bác sỹ y tế am hiểu về cách điều trị từng căn bệnh riêng tư vấn. Cả nhà xuất bản và tác giả đều không chịu trách nhiệm trực tiếp hay gián tiếp về việc khuyên dùng hay kê bất kỳ đơn thuốc nào hay phải chịu bất kỳ trách nhiệm nào cho những người tự sử dụng phương thức ghi trong cuốn sách này để chữa trị.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>        In tại Hợp chủng quốc Hoa Kỳ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Nội dung</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Lời giới thiệu …………………………………………………………..4</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan là gì? ………………………………………………………&#8230;4</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ba khả năng chính của rong biển “Fucoidan” …………………………5</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khả năng 1 Tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) một cách .</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>đáng ngạc nhiên ………………………………………………………………5</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khả năng 2 Nâng cao sự “miễn dịch” để tiêu diệt ung thư …………10</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khả năng 3 Ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới bằng việc lấy</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Đi các tế bào ung thư và cung cấp các chất dinh dưỡng ……………..22</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Phỏng vấn Bác sỹ ung thư Tachikawa ………………………………..26</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp lâm sàng 1 Ung thư dạ dày (Stomach cancer) …………26</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp lâm sàng 2 Ung thư buồng trứng (Ovarian cancer)..…&#8230;28</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp lâm sàng 3 Ung thư tiền liệt tuyến (Prostate cancer) …..30</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khả năng kỳ diệu khác của Fucoidan ………………………………&#8230;31</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Luận án về tác dụng chống u bướu của Fucoidan……………………&#8230;31</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các câu hỏi thường gặp về Fucoidan…………………………………..32</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;">
<div><strong> </strong></div>
</div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Lời giới thiệu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>OKINAWA- ĐẢO ĐẸP, LÂU ĐỜI NHẤT Ở NHẬT BẢN. Okinawa, đảo cực nam của Nhật Bản, nổi tiếng là “quần đảo đẹp, lâu đời nhất ở Nhật Bản”.Đây cũng là nơi có tỉ lệ tử vong do bệnh ung thư thấp nhất Nhật Bản. Một trong nhũng nguyên nhân giúp giảm tỉ lệ tử vong này là thói quen ăn uống đặc biệt của người dân Okinawa. Thành phần chủ yếu khi chế biến món ăn của người dân Okinawa là các loại rong biển như kombu (laminaria japonica), mozuku (nemacystus pinnaifida, gần rễ). Kombu thường có ở vùng biển phía bắc quanh đảo Hokkaido. Tuy nhiên, trong suốt giữa thời kỳ Edo (khoảng nữa đầu thế kỷ 18), người Nhật Bản đã xuất khẩu kombu sang Nhà Thanh (Trung Quốc bây giờ). Khi đó, Okinawa trở thành một cảng biển để vận chuyển kombu sang Nhà Thanh. Chính vì thế kombu trở thành thực phẩm phổ biến ở Okinawa và là một thành phần quan trọng trong món ăn truyền thống của người Okinawa.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trong khi những người dân trên đảo Honsu (hòn đảo lớn nhất Nhật Bản) thường dùng kombu để nấu súp rau thì những người Okinawa lại thường ăn sống kombu. Khi ăn sống như vậy, tất cả các chất dinh dưỡng tự nhiên được đưa vào cơ thể và được hấp thụ toàn bộ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Okinawa là khách hàng mua kombu lớn nhất Nhật Bản. Hơn thế nữa, người ta cho rằng lượng mozuku được tiêu thụ tại Okinawa nhiều gấp mười lần so số lượng được tiêu thụ tại các nơi khác. Chúng tôi thường bầy mozuku trong một cái đĩa nhỏ và dùng kèm với rượu Sake. Tuy nhiên, tại Okinawa, mozuku lại thường được nấu trong súp miso hoặc zosui (một loại cháo đặc gồm rau và gạo của Nhật Bản). Chắc hẳn mọi người đã nghe thấy đâu đó nói rằng tảo biển tốt cho cơ thể vì nó giàu vitamin cũng như iot, canxi, mangan, sắt, kẽm, kali, và các khoáng chất khác. Khi phát triển, rong biển hấp thụ nhiều khoáng chất tan trong nước biển vì thế, tự nhiên chúng giàu khoáng sản. Thực chất, rong biển tập trung tất cả những chất tốt có trong nước biển.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Dựa trên thành phần sắc tố, rong biển được phân loại thành tảo nâu, tảo đỏ, tảo xanh lục, tảo xanh lá cây. Nhóm tảo nâu bao gồm kombu, wakame, hijiki (hijikia hình thoi) và mozuku, trong khi đó, tảo đỏ có tengusa (thạch trắng) và amanori (đá Pocfia). Tảo xanh lục có aonori (rong biển xanh) và aosa (rau diếp biển), và tảo xanh lá cây có kudamo (Lynbya confervoides) và higemo (Rivularia). Các cây lớn lên nhờ sự quang hợp và rong biển dưới đại dương cũng tạo ra sự quang hợp. Tảo xanh lá cây – tự mình bám chặt vào đá và các thành tường tại bến cảng – còn tảo xanh lục mọc ở những vùng biển thấp nơi chúng có thể nhận được đủ ánh nắng. Trong khi tảo đỏ có thể tự tạo ra sự quang hợp khi có một chút ánh sáng nhỏ xuất hiện ở những vùng nước sâu hơn thì tảo nâu thường sống ở những vùng nước có độ sâu trung bình.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Con người của thời kỳ hiện đại có chế độ ăn không cân bằng, thiếu các vitamin và khoáng chất, và sự thiếu cân bằng này tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh tật phát triển. Tuy nhiên, kombu, mozuku, và các loại rong biển khác lại cung cấp thêm các vitamin và khoáng chất cho cơ thể. Chính vì thế người ta cho rằng rong biển có lợi cho sức khoẻ. Tuy nhiên, tìm hiểu một cách đơn giản các đặc tính tốt tự nhiên của rong biển không tiết lộ cho thấy bí quyết sống lâu của người dân Okinawa. Chìa khoá của bí mật này nằm ở Fucoidan.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan là gì?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan mới được phát hiện gần đây và được giới y học chú ý đến. Khá nhiều người biết rằng nấm mỡ (agaricus blazei murill) là một loại nấm có chứa chất chữa ung thư. Tuy nhiên, Fucoidan vừa có thể nâng cao khả năng miễn dịch của cơ thể giống như nấm mỡ (agarius) vừa có thể tạo ra chất chống ung thư bằng cách tạo ra apoptosis (sự tự chết theo chu trình của tế bào). Fucoidan có trong tảo biển (tảo nâu) như mozuku (nemacystus decipiens), mekabu (phần nhăn gần rễ của tảo bẹ loại wakame hoặc undaria pinnatifida) và kombu (laminaria japonica). Thành phần “nhựa” của rong biển rất giàu Fucoidan – một thuật ngữ dùng để chỉ một nhóm polysaccarit (polysaccharides) có chứa nhiều đường fucoza sunfat.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các nghiên cứu gần đây cho thấy polysaccarit, một loại sợi thức ăn có trong tảo nâu, mang lại nhiều lợi ích về sức khoẻ cho con người. Polysaccarit do các sacarit đơn như glucoza, xyloza và galactoza tạo thành. Chúng được coi là “các chất có hoạt tính sinh học”mà đang thu hút được nhiều sự chú ý. Nhiều người trong số các bạn đã nghe nói đến tác động chống ung thư của “β-glucan” có trong nấm mỡ và fomes yucatensis. Chất “β-glucan” này cũng là một polysaccarit.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các loại tảo konbu, mozuku, và mekabu (phần giống như nếp gấp ở gần rễ của tảo bẹ loại wakame) đều có một đặc điểm chung đó là trơn và dính. Thành phần chính khiến tảo biển trơn chính là “fucoidan”- một loại polysaccarit khác do nhiều mắt xích liên quan đến một loại đường có tên gọi là “fucoza” tạo thành. Điểm khác biệt chính giữa fucoidan và các polysaccarit khác là fucoidan chứa nhiều các nhóm sunfat (SO42-). Từ thuật ngữ nhóm “sunfat” bạn có thể nghĩ đến</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>axit sunfuric (H2SO4), một chất lỏng có nồng độ axit mạnh làm tan chảy các kim loại như vàng, platinum, và cũng làm cháy da chúng ta. Tuy nhiên, nhóm sunfat là một chất hoàn toàn khác so với axit sunfuric. Nó là chất tạo ra nhựa của rong biển.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ba khả năng chính của rong biển “Fucoidan”</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Làm cho các tế bào ung thư tự chết.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>CHẤT NHỜN NÀY KHIẾN CÁC TẾ BÀO UNG THƯ YẾU DẦN VÀ TỰ CO LẠI. Hãy cùng xem xét “ba khả năng” này của “Fucoidan”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bí ẩn về khả năng “chống ung thư” có một không hai của “fucoidan”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan đã cho thấy rất nhiều các tác dụng dược lý. Điều này, đã khuyến khích các nhà nghiên cứu tiến hành thêm những cuộc thí nghiệm và nghiên cứu về fucoidan với hy vọng tìm thêm được những khả năng mới của fucoidan giúp cho việc điều trị ung thư. Những nghiên cứu và các cuộc thí nghiệm trên động vật, v.v.. cho thấy rằng fucoidan thực sự có ảnh hưởng đến điều trị ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Không giống như các chất bổ sung sức khoẻ truyền thống khác thường đưa ra các tác dụng chống ung thư thì hiệu quả của fucoidan gồm ba chức năng. Đó là:</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>1 Tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) trong các tế bào ung thư</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>2 Nâng cao khả năng miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>3 Ức chế sự hình thành và phát triển các mạch máu mới (Angiogenesis)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Người ta cho rằng ba chức năng này khiến các tế bào ung thư tự nhiên yếu đi và co lại, thậm chí chết đi. Vì thế, hãy cùng trao đổi đôi chút về “ba khả năng chống ung thư” có một không hai này của fucoidan.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Khả năng 1 Tác dụng tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (Apoptosis) một cách đáng ngạc nhiên.</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào thường chết theo hai cách: Một là “apoptosis” (tự chết theo chu trình) và hai là “necrosis” (hoại tử).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hoại tử là một dạng của tế bào chết trong đó một tế bào bị tổn hại và sau đó chết đi. Nó được coi như là một cái chết bất thường của một tế bào do các yếu tố bên ngoài gây ra như bỏng hay nhiễm trùng do vi khuẩn. Hoại tử khiến màng tế bào xẹp xuống. Nó cũng gây ra sự đốt nóng hoặc chứng viêm nhiễm cho các biểu bì xung quanh.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ngược lại, “apoptosis”(sự tự chết theo chu trình của tế bào) lại là hiện tượng mà các nhân tế bào co lại và bản thân các tế bào trở nên nhỏ hơn và thậm chí tách thành các mảnh nhỏ. Sau đó, các mảnh tế bào nhỏ này bị các tế bào thực bào nuốt và xử lý. Do đó, apoptosis không gây ra chứng viêm nhiễm hoặc các tác hại khác cho các biểu bì xung quanh. Thông thường, mỗi tế bào đã được lập trình trong ADN của nó để trải qua quá trình apoptosis. Người ta cho rằng khi một tế bào liên kết với một virut, chất chống chuyển hoá hoặc các chất gây nghiện khác, tế bào NK hoặc tế bào diệt T (killer T) thì chương trình này sẽ bắt đầu hoạt động và các tế bào sẽ trải qua quá trình apoptosis.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Có thể bạn sẽ ngạc nhiên khi biết rằng “tất cả các tế bào đều được lập trình để chết đi”. Tuy nhiên, cơ chế “tự tiêu diệt của các tế bào” là một hiện tượng rất quan trọng trong hoạt động tự nhiên. Các tay và chân của một bào thai người có hình của một cái xương mỏng dẹt, nhỏ và đơn giống như chân của một con chim nước với những ngón chân có màng. Khi bào thai lớn lên trong tử cung của người mẹ, các màng được cắt và tách ra để tạo ra các ngón tay và chân riêng rẽ. Lúc này, các tế bào tạo thành các màng giữa các ngón chân /ngón tay tự nhiên biến mất do quá trình apoptosis. Khi một con nòng nọc lớn lên và trở thành một con cóc, cái đuôi của nó tự nhiên mất đi. Sau khi một sâu bướm biến thành một con bướm, nó không còn các tế bào cơ và tế bào thần kinh giúp nó cử động trong thời kỳ là sâu. Hiện tượng này có được là nhờ sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ngoài những biến đổi vô hình này, còn có rất nhiều những biến đổi vô hình khác xuất hiện trong cơ thể chúng ta mỗi ngày do sự tự chết theo chu trình của các tế bào. Trong nhiều trường hợp, sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) liên quan đến quy trình đào thải khỏi cơ thể chúng ta những tế bào già không còn cần thiết nữa.Các biểu bì mà sản sinh ra máu cũng trải qua quá trình apoptosis. Mỗi ngày, cơ thể chúng ta sản sinh ra một lượng tế bào máu nhất định, nhưng các nguyên hồng cầu, bạch cầu trung tính thừa và các tế bào máu trắng khác được đào thải khỏi cơ thể qua quy trình lựa chọn tự nhiên bằng quá trình apoptosis.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Apoptosis tạo ra các tác động khiến các tế bào ung thư tự nhiên chết đi.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào trở thành ung thư bị biến dạng so với các tế bào thường. Nếu cơ chế apoptosis hoạt động bình thường thì những tế bào này sẽ tự chết đi giống như các tế bào thường. Tuy nhiên, các tế bào ung thư không thể tự chết đi bởi sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) của nó không thể hoạt động được nữa. Các tế bào bình thường có một vòng đời nhất định và sẽ không thể tiếp tục phân chia mãi. Ngược lại, các tế bào ung thư sẽ tiếp tục phân chia và phát triển mãi mãi.Các tế bào ung thư không hề có vòng đời và người ta cho rằng chúng gần như sống mãi. Các tế bào “ung thư biểu mô cổ tử cung” do phòng thí nghiệm của Mỹ lấy được năm 1951 đã được nuôi tại các phòng thí nghiệm trên toàn Thế giới và đến nay chúng vẫn sống và phát triển. Ngày nay, các tế bào này được sử dụng trong nhiều nghiên cứu. Khả năng tồn tại mạnh mẽ của chúng gây nhiều khó khăn cho việc điều trị ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào ung thư cũng “di chuyển” khắp mọi nơi trên cơ thể thậm chí cả những vị trí rất xa, thông qua những khối u bạch huyết và các mạch máu được nối với điểm đầu tiên của ung thư. Sau khi đến một vị trí mới, các tế bào ung thư mọc rễ và bắt đầu tạo ra những thương tổn mới. Đây là nguồn gốc “sự di căn” của ung thư. Nếu ung thư di căn đến nhiều vị trí hoặc tới những vị trí mà không thể phẫu thuật để loại bỏ những thương tổn của ung thư thì việc điều trị sẽ cực kỳ khó khăn.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Giả sử rằng phẫu thuật đã loại bỏ tất cả các thương tổn của ung thư. Thậm chí nếu chỉ còn một tế bào ung thư thì tế bào này sẽ lại tái tạo và di căn, cuối cùng lại tàn phá cơ thể chúng ta. Đó là những gì chúng ta gọi là “sự tái phát” của ung thư. Ung thư rất khác so với các bệnh khác ở chỗ nó có thể di căn và tái phát và triệu chứng này có thể được lặp lại. Nếu chúng ta có thể tìm thấy một chất mà loại trừ được các tế bào ung thư rắc rối này bằng cách tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (apoptosis) thì những chất này chăc chắn sẽ tạo ra thuốc chống ung thư hữu hiệu. Tuy nhiên, sẽ chẳng có nghĩa lý gì để đề cập đến những chất này khi chúng cũng làm cho các tế bào bình thường trải qua quá trình apoptosis.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Một trong rất nhiều nguyên nhân tại sao fucoidan lại được chú ý nhiều đến vậy là bởi khả năng khiến“duy nhất” các tế bào ung thư tự chết theo chu trình. Các tác dụng phụ của thuốc và các thành phần tạo ra sự tự chết theo chu trình đã gây ra nhiều lo lắng. Nhưng với fucoidan, người ta hoàn toàn không phải lo lắng gì bởi nó là một chất tự nhiên sống dưới biển. Bạn sẽ không bao giờ gặp phải những vấn đề về sức khoẻ do ăn quá nhiều mozuku: Cơ thể của chúng ta có thể tiêu hoá fucoidan một cách an toàn. Tại Hội nghị toàn quốc lần thứ 55 của Hiệp hội Ung thư Nhật Bản vào năm 1961, các khán giả đã chú ý đến một báo cáo trong đó các nhà nghiên cứu đã tìm ra rằng fucoidan không chỉ khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình mà còn không hề để lại hậu quả gì cho các tế bào bình thường. Báo cáo này đã khiến các nhà nghiên cứu bắt đầu tiến hành nhiều cuộc thí nghiệm và nghiên cứu và những kết quả khả quan đã lần lượt được công bố. Phương pháp điều trị ung thư truyền thống  theo phương thuốc tây gồm “ba liệu pháp chính” được nghiên cứu để “giết các tế bào ung thư bằng các phương pháp nội khoa” như “mổ để loại bỏ các thương tổn của ung thư”, “sử dụng các thuốc chống ung thư để làm yếu và tiêu diệt các tế bào ung thư” và “dùng các tia bức xạ để tiêu diệt các tế bào ung thư trung tâm”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ba liệu pháp này không chỉ ảnh hưởng đến các tế bào ung thư mà còn gây tác hại cho các tế bào thường ở một mức độ nhất định. Chính vì thế các liệu pháp này đều gây ra các tác dụng phụ như rụng tóc, buồn nôn, nôn, mất cảm giác thèm ăn và mệt mỏi cũng như mất dần CLCS (chất lượng cuộc sống).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ngược lại, “tác dụng tạo ra sự tự chết theo chu trình” của fucoidan chỉ khiến cho các tế bào ung thư “tự chết”. Giới y học đang chú ý nhiều đến Fucoidan bởi vì nó phối hợp với các phương pháp điều trị ung thư truyền thống mà không cần bất kỳ hạn chế nào.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Sự tự chết theo chu trình (Apoptosis) được miêu tả như là “cái chết đã được lập trình sẵn của tế bào”. Nó là một phần trong cơ thể phát triển của các tế bào bình thường, nhờ đó các tế bào không cần thiết hoặc các tế bào có hại sẽ bị loại trừ. Các mô bình thường giữ lại homeostatic bằng cách duy trì sự cân bằng về tăng trưởng của tế bào và sự tự chết theo chu trình khiến các tế bào chết đi. Chúng tôi cũng đã biết được rằng Apoptosis đã khiến một con nòng nọc bị mất đuôi khi nó trở thành một con cóc.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tuy nhiên, với các tế bào dị thường thì hành động “ức chế sự tự chết theo chu trình của tế bào” sẽ là nguyên nhân khiến các tế bào này biến đổi thành ung thư và tạo ra sự lan truyền dưới hình thức di căn. Nhiều nghiên cứu vẫn được tiến hành nhằm hiểu rõ cơ chế apoptosis yếu và làm các tế bào ung thư co lại như thế nào. Cơ chế này có thể được lý giải dựa trên những kết quả nghiên cứu được như sau:</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 1</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Mô hình tự chết theo chu trình: Làm thế nào để một tế bào dẫn đến tự huỷ diệt</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>NK cell: Tế bào NK</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Target:   Tế bào mục tiêu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Có những công tắc khởi sự“tín hiệu tự hủy diệt” tại bề mặt của mỗi tế bào (được hiển thị trong hình là: “Y”</em><em>). Khi một trong những sự bật công tắc này được kích hoạt, nhân tế bào sẽ bị vỡ ra từng mảnh và các tế bào sẽ dần dần chết đi. Đây được xem như là quá trình “rau biển fucoidan” giết chết các tế bào ung thư</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Nguồn: Mebio, 1995, Sự nhìn y học  Co., Ltd.</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>   1 Một nhân tố tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào khởi động công tắc tự hủy diệt trong một tế bào ung thư và do đó ngăn chặn sự tổng hợp các ADN trong tế bào.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>2 Các tế bào diệt tự nhiên NK và tế bào diệt T phóng ra Perforin để phá huỷ lớp màng tế bào của một tế bào ung thư khiến tế bào ung thư chết đi. Cũng như vậy, các tế bào diệt T cũng phóng ra gramzyme khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình bằng cách phá huỷ các gen ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>3 Fucoidan kích hoạt các caspase (= một enzyme phân giải protein được tìm thấy trong các tế bào của một tế</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>bào ung thư và do đó khiến tế bào ung thư này tự chết theo chu trình).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cho dù fucoidan tiếp tục tác động rõ ràng tới Fas (= thụ thể màng tế bào ung thư) như thế nào để kích hoạt caspase vẫn chưa được tiết lộ một cách chi tiết và các nghiên cứu vẫn được tiến hành, thì các lý do nêu trên đã đưa ra những giải thích rõ ràng tại sao các tế bào ung thư tự chết đi. Những nghiên cứu gần đây đã cho thấy rằng Fucoidan đóng vai trò lớn trong cơ chế khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 2</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hoạt động gây ra sự tự chết theo chu trình</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>(Rau biển fucoidan cung cấp “nhân tố tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào”, tác động vào những tế bào ung thư một cách trực tiếp . Khi rau biển fucoidan kích hoạt “tín hiệu tự huỷ diệt” trên các tế bào ung thư, các tế bào ung thư sẽ bắt đầu “tự hủy diệt” và sau đó tự nhiên biến mất)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>▪ Once a self-destruction switch is activated, a cancer cell will disappear naturally</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>(Mỗi lần sự chuyển đổi tiêu huỷ được kích hoạt, thì một tế bào sẽ tự nhiên biến mất) .</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>▪ I am pressing the self-destruction button (Tôi đang nhấn vào nút tự huỷ)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan trong mozuku cho thấy tác động tạo ra sự tự chết theo chu trình mạnh mẽ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>LÀM CHO CÁC TẾ BÀO UNG THƯ TỰ CHẾT THEO CHU TRÌNH….Vậy làm sao chúng ta có thể khẳng định rằng tác dụng này thực sự xảy ra? Để trả lời cho câu hỏi này, giáo sư Hiroshi Taguchi công tác tại khoa Tài nguyên sinh học (sinh vật học phân tử và tế bào) của trường Đại học Mie đã tiến hành một cuộc thí nghiệm. Trong thí nghiệm này, giáo sư đã lấy một bình dung dịch có chứa fucoidan hoà tan trong nước muối được trộn với một dung dịch cấy có chứa các tế bào ung thư của người. Đồng thời giáo sư cũng lấy một bình dung dịch nước muối không có fucoidan làm dung dịch mẫu và cũng đem trộn với các tế bào ung thư của người giống như vậy. Khi quan sát các mẫu, tế bào ung thư trong dung dịch có chứa fucoidan nhanh chóng bị mất hình dạng bên ngoài và hầu hết các tế bào ung thư đã chết và biến mất sau 24 giờ. Giáo sư Taguchi giải thích về kết quả này như sau: “Các tế bào ung thư bị mất hình dạng, yếu dần và bị tách thành các miếng nhỏ. Đây là mô hình tiêu biểu của tế bào chết dưới dạng tự chết theo chu trình”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tại sao các tế bào ung thư tự chết do apoptosis? Có hai cơ chế hoạt động tại đây. Một là fucoidan tiết ra một chất khiến bề mặt của một tế bào ung thư tự phá huỷ, làm cho tế bào ung thư này tự chết theo chu trình. Cơ chế còn lại là “perforin” có trong các tế bào NK và các tế bào T tạo ra những lỗ thủng trên màng của một tế bào ung thư và phá huỷ nhân tế bào, trong khi đó “granzyme” có trong các tế bào T cũng phá huỷ các gen trong một tế bào ung thư. Cả hai chất này đều tạo ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (các tế bào NK và tế bào T sẽ được giải thích sau). Với các tế bào ung thư mà xảy ra hiện tượng apoptosis thì các cấu trúc hình xoắn ốc của các gen (ADN) sẽ bị tách nhỏ, và nhân của chúng cũng trở thành từng mảnh nhỏ. Cuối cùng, các tế bào sẽ chết. Các tế bào ung thư tự chết một cách tự nhiên bởi quá trình apoptosis xảy ra do sự phân đoạn ADN.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trong các cuộc thí nghiệm nhằm nghiên cứu sự tự chết theo chu trình của tế bào có trong các chất, thông thường các nhà nghiên cứu có thể tính toán được tỉ lệ của sự phân đoạn tế bào giống như giáo sư Taguchi của Đại học Mei đã từng làm. Có một cuộc thí nghiệm mà các nhà nghiên cứu đã tiến hành nhằm nghiên cứu bản chất để xem liệu chúng có “cơ chế tạo ra sự chết theo chu trình (apoptosis)” chống lại hai loại tế bào ung thư, các tế bào ung thư buồng trứng của người và ung thư bạch cầu dạng tiền tuỷ bào (promyelocytic leukaemia). Các chất được nghiên cứu là: 1 fucoidan lấy từ mozuku Okinawa, 2 fucoidan lấy từ kombu, và 3 nấm mỡ (agaricus). Trong những dung dịch có chứa các chất tương ứng ở nồng độ cô đặc, người ta tìm được hai khuynh hướng của tế bào ung thư và đo được tỉ lệ phân đoạn ADN</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>(xem biểu đồ hình 3).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Kết quả tìm được với cả hai mẫu fucoidan lấy từ mozuku Okinawa và fucoidan lấy từ konbu cho thấy rằng tỉ lệ phân đoạn tăng lên khi nồng độ cô đặc fucoidan trong dung dịch tăng lên. Ngược lại, với mẫu nấm mỡ, sự phân đoạn đã thực sự biến mất thậm chí ngay cả khi nồng độ được tăng lên. Khi so sánh các mẫu fucoidan lấy từ mozuku Okinawa và fucoidan lấy từ konbu trong thí nghiệm, người ta thấy rằng tỉ lệ phân đoạn trong các mẫu chứa fucoidan lấy từ mozuku Okinawa cao hơn từ 40 đến 50% so với các mẫu chứa fucoidan lấy từ kombu. Kết quả này cho thấy các fucoidan khác nhau có khả năng tự phân huỷ khác nhau và fucoidan lấy từ mozuku Okinawa có khả năng tạo ra sự tự chết theo chu trình cao hơn.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Vẫn còn một câu hỏi chưa được trả lời đó là liệu fucoidan có trực tiếp tham gia vào việc tạo ra sự tự chết theo chu trình hay gián tiếp tạo ra sự tự chết theo chu trình bằng việc tác động đến các tế bào NK hay tham gia cả hai quá trình trên. Để trả lời cho câu hỏi này, chúng ta cần phải tiến hành thêm các cuộc thí nghiệm và nghiên cứu. Tuy nhiên, có một điều rõ ràng là fucoidan đã khiến các tế bào ung thư tự chết. Cơ chế này chắc chắn sẽ tạo ra một tia sáng mới cho các phương pháp điều trị ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>                               </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Thí nghiệm trên các “hoạt  động tạo ra sự tự chết theo chu trình” của fucoidan</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>(Dữ liệu được cung cấp bởi Okinawa Hakko Kagaku)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Hình 3</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Induction of apoptosis in premyeloccytic leukemia cell strain</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tác động tạo ra sự chết theo chu trình  đối với tế bào ung thư bạch cầu tiền tuỷ bào</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>(Rate of AND fragmentation) : Tỉ lệ phân đoạn của AND</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Apoptois inducting capability : Khả năng gây ra sự tự chết theo chu trình</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Induction of apoptosis in cultured human ovarian cancer cell strain</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tác động tạo ra sự chết theo chu trình đối với tế bào ung thư buồng trứng của người</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Concentration : Nồng độ</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan extract from mozuku : Fucoidan được chiết xuất từ mozuku</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan extract from konbu   : Fucoidan được chiết xuất từ konbu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Agaricus extract : Chiết xuất từ nấm mỡ</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Khả năng 2 Nâng cao sự “miễn dịch” để tiêu diệt ung thư.</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cơ thể chúng ta có một cơ chế tự nhiên để loại trừ các chất lạ xâm nhập vào cơ thể, như các mầm bệnh và virut khiến chúng trở nên vô hại. Cơ chế này được gọi là “hệ miễn dịch”. Về một ý nghĩa nào đó, sự miễn dịch là một cơ chế mà phân biệt các chất bên trong với các chất bên ngoài và loại trừ các chất bên ngoài. Chúng ta biết rằng có những người dễ dàng bị nhiễm lạnh và có những người không. Vậy sự khác nhau giữa hai nhóm người này là gì? Khi một virut lạnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta, cơ thể chúng ta có thể loại trừ virut bởi chúng ta có khả năng miễn dịch cao. Tuy nhiên, nếu chúng ta có một sức khoẻ yếu, khả năng miễn dịch của chúng ta kém, cơ thể chúng ta không thể loại trừ virut và kết quả là chúng ta sẽ chết. Đối với cơ thể chúng ta, các tế bào ung thư là các chất lạ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Có những nhóm tế bào kiểm soát sự miễn dịch trong cơ thể của chúng ta. Chúng được gọi là “các tế bào T” = các tế bào diệt T (= killer T cells) giúp tiêu diệt các chất lạ, các tế bào hỗ trợ T (helper T cells) giúp nâng cao khả năng miễn dịch, v.v.. và “các tế bào B” có trong các bạch huyết bào (limpho bào) được tìm thấy trong máu chúng ta. Hệ miễn dịch của chúng ta cũng có phần hỗ trợ của Đại thực bào (Macrophages) và “các tế bào diệt tự nhiên”(= NK cells). Các tế bào miễn dịch này hoạt động giống như người lính gác chống lại tấn công các chất lạ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>VẬY “HỆ MIỄN DỊCH” hoạt động NHƯ THẾ NÀO    </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 4</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan reaches the small intestines : Fucoidan tiến đến các thành ruột</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Because fucoidan is a polysaccharide, it reaches the small interstines without being subject to decomposition    </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bởi vì fucoidan là một polysaccarit, khi nó tiến đến các thành ruột sẽ không chịu bất kỳ đối tượng nào phân huỷ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The macrophages recognize fucoidan as a harmful substance…:</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các đại thực nào đón nhận fucoidan như một chất có hại</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…And then notify the helper T – cells : Và sau đó thông báo cho tế bào hỗ trợ T</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The helper T – cells release “cytokine”, whereupon the NK cells, macrophages, T cells and B cells attack the fucoidan : Các tế bào hỗ trợ T phóng ra một chất “cytokine”, sau đó, các tế bào NK, đại thực bào, tế bào T và tế bào B hợp lực tấn công vào fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The entire array of immune cells is now mobilized in an attack on the presence of fucoidan: Toàn bộ lực lượng các tế bào miễn dịch ngay lập tức sẽ được huy động và tấn công vào fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>This promotes the production and activity of macrophages and lymphocytes while boosting the immune system throughout the body: Điều này sẽ đẩy mạnh việc sản xuất và kích hoạt những đại thực bào và các bạch huyết bào đồng thời nâng cao khả năng của hệ thống miễn dịch trong cơ thể.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The body’s immune system, which has been boosted in this manner, then attacks the cancer : Hệ thống miễn dịch trong cơ thể đã được đẩy mạnh theo cách này, và sau đó tấn công và các tế bào ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bạch huyết bào (lympho bào) được phân loại thành “các tế bào T” và “các tế bào B”, những tế bào này được sinh ra từ các tế bào gốc (stem cells) trong tuỷ xương của chúng ta. Các tế bào B tạo ra các kháng thể (các globulin miễn dịch) và chủ yếu tấn công các vi khuẩn, virut và các chất lạ khác</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 5</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Immune cells: Những tế bào miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hematopoietic stem cells in bone marrow : Những tế bào gốc tạo huyết trong tủy sống</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Multipotent stem cells : Những tế bào gốc có thể tạo ra nhiều tế bào khác nhau</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Lymphatic stem cells   : Những tế bào gốc bạch huyết</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Granulocytes : Những bạch cầu hạt</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Basophils    : Những bạch cầu ưa kiềm</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Eosinophils : Những bạch cầu ưa eosin</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Macrophages : Đại thực bào</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Lymphocytes : Bạch huyết bào</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>T cells : Tế bào diệt T</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>B cells : Tế bào B</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>NK cells : Tế bào NK</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Antibodies : Kháng thể</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Helper T cells : Tế bào hỗ trợ T</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Killer T cells   : Tế bào tự diệt T</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Suppressor T cells : Tế bào điều hoà T</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào T không sản sinh ra các kháng thể. “ Các tế bào hỗ trợ T” (helper T cells) tạo ra một chất có hoạt tính sinh học được gọi là “lymphokine” và gây tác động lên các tế bào B để tạo ra các kháng thể. Khi các chất lạ cần nhắm đến đã bị loại trừ thì “các tế bào điều hòa T” (suppressor T cells) dừng việc tấn công này lại. Nếu việc tấn công vẫn tiếp tục, quá nhiều kháng thể được tạo ra cũng sẽ gây tổn hại đến các tế bào bình thường của cơ thể. “Các tế bào diệt T” trực tiếp tấn công các tế bào ung thư và các chất lạ khác. Các lympho bào này không chỉ là các tế bào duy nhất tấn công các chất lạ, mà các Đại thực bào (Macrophages) cũng hoạt động như các xúc tác kích hoạt hệ miễn dịch của chúng ta. Các Đại thực bào có thể cuốn các chất lạ vào trong mình chúng và tiêu diệt các tế bào này, và do đó chúng có cái tên như vậy (Đại thực bào có nghĩa là kẻ ham ăn)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 6</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hoạt động nâng cao khả năng miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>(“Những tế bào miễn dịch” như những Đại thực bào, tế bào tự diệt T và những tế bào diệt tự nhiên  NK được kích hoạt bởi fucoidan để cùng nhau làm việc tạo ra một cuộc tấn công vào các tế bào ung thư, đó chính là những chất lạ xâm nhập vào cơ thể của chúng ta.)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em>Ngoài ra, để “ăn” các chất lạ, các Đại thực bào chịu ảnh hưởng bởi sự hình thành các tế bào T có sẵn trong các chất lạ bằng việc giải phóng các enzim và cytokines (interferons, interleukins và các chất có hoạt tính sinh học khác). Hoạt động này được gọi là “sự tạo ra kháng nguyên” (antigen presentation). Ngược lại, “các tế bào diệt tự nhiên” (NK) hoạt động mà không bị chi phối hay điều khiển bởi các tế bào khác. Chúng thực sự là những “kẻ hủy diệt”. Những “kẻ hủy diệt này” tấn công các tế bào lạ ngay khi chúng chúng phát hiện ra.Mặc dù sau khi tế bào trở thành ung thư, nó cần một thời gian lâu hơn nữa để một nhóm tế bào ung thư biến thành một khối u nhưng các tế bào NK có thể tiêu diệt các tế bào dị thường mà vừa mới bắt đầu chuyển thành ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>SỰ SUY GIẢM MIỄN DỊCH CỦA CHÚNG TA TĂNG THEO TUỔI…</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>“Khả năng miễn dịch” là cơ chế bảo vệ tự nhiên của cơ thể chúng ta. Chừng nào các tế bào miễn dịch được nhắc đến ở trên hoạt động đúng thì chúng vẫn có thể bảo vệ chúng ta khỏi các căn bệnh thậm chí ngay cả khi có rất nhiều virut, vi khuẩn và mầm bệnh xâm nhập vào cơ thể chúng ta hay khi các tế bào biến đổi và chuyển thành ung thư. Nếu tất cả mọi người đều  có “khả năng miễn dịch” thì tại sao một vài người trong chúng ta lại bị ung thư? Phải chăng “khả năng miễn dịch” không có tác dụng với ung thư?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Câu trả lời đơn giản là bởi vì sự miễn dịch của chúng ta giảm dần theo tuổi. Các chức năng của cơ thể con người sẽ đạt tới đỉnh cao nhất ở độ tuổi 20 và sau đó dần dần yếu đi. Ví dụ, nếu bạn nhận thấy rằng một vết sẹo của bạn lành chậm hơn nhiều so với trước đây thì có nghĩa là khả năng bảo vệ của bạn đang giảm đi. Đó là một dấu hiệu cho thấy quá trình “lão hoá” bắt đầu. Đáng tiếc là các tế bào miễn dịch cũng có tuổi và do đó, khi chúng ta già đi, cơ thể của chúng ta bắt đầu mắc nhiều bệnh tật. Chắc hẳn tất cả các bạn đều nhìn thấy vài dấu hiệu của sự suy giảm miễn dịch. Đã bao giờ bạn có một vết thương nhỏ mà không lành nhanh như trước nữa không? Bạn có cảm thấy thời gian để bạn khỏi cúm hoặc cảm lạnh thông thường lâu hơn trước không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Lão hoá không phải là nguyên nhân duy nhất gây giảm khả năng miễn dịch của chúng ta. Các tế bào miễn dịch có thể giảm về số lượng hoặc chức năng để loại trừ “khí oxy tích cực” (active oxigen) có hại mà có thể yếu dần vì những nguyên nhân khác. Các nhân tố chính gồm sự ô nhiễm thức ăn và môi trường do hàng loạt các chất hoá học và căng thẳng của xã hội hiện đại. Các nhân tố này tích tụ lại và gây ra sự suy giảm miễn dịch của con người ngày nay.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan hoạt hoá các tế bào NK</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tiến sỹ Makoto Fujii của trường Đại học Kagoshima đang tiến hành các cuộc thí nghiệm trên động vật và những nghiên cứu khác về fucoidan. Ông tin rằng Fucoidan có thể được sử dụng rất hữu hiệu trong điều trị ung thư. Sau đây, chúng tôi sẽ giới thiệu một trong những nghiên cứu của ông. Trong thí nghiệm này, những con chuột được cấy các tế bào ung thư dưới da (tế bào u được gọi là “sarcoma 180”). Sau đó, những con chuột này được chia làm hai nhóm: Một nhóm được cho ăn các thức ăn có chứa fucoidan và nhóm còn lại ăn các thức ăn không có fucoidan. Hai nhóm này được theo dõi và kiểm tra những thay đổi sau 20 ngày.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Với nhóm chuột được ăn thức ăn không có chứa fucoidan thì trọng lượng của khối u vào khoảng 1.06g.Tuy nhiên với nhóm chuột được ăn thức ăn có chứa fucoidan thì trọng lượng khối u về cơ bản đã xấp xỉ gần 0.24g (xem biểu đồ hình 7).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Khi kiểm tra tế bào máu trắng có trong lá lách của chuột như một chỉ số về mức độ hoạt tính NK, thì những con chuột ăn các thức ăn có chứa fucoidan cho thấy các mức độ hoạt tính NK cao hơn (xem biểu đồ hình 7).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các kết quả này có ý nghĩa gì?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cơ thể chúng ta có khoảng 60 tỉ tế bào, trong đó các tế bào già chết đi và được thay thế bằng các tế bào mới. Người ta cho rằng cứ sau 200 ngày các tế bào trong cơ thể của chúng ta lại được thay mới. Tuy nhiên, không phải tất cả các tế bào được thay mới đều là tế bào khoẻ mạnh. Theo các nghiên cứu thì có khoảng 3000 tế bào dị thường được sinh ra trong cơ thể của chúng ta mỗi ngày. Mặc dù cơ thể của chúng ta có thể loại trừ các tế bào dị thường này khi chúng ta còn khoẻ, nhưng vì một lý do nào đó mà một vài tế bào dị thường này còn sót lại trong cơ thể chúng ta, chúng sẽ phát triển và trở thành “ung thư”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 7</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>(Dữ liệu được trình bày vào năm 2003 tại Đại hội chung thuộc nhánh phía tây Nhật Bản và nhánh Chugoku/Shikoku của hiệp hội  sinh học, công nghệ sinh học và hoá học nông nghiệp Nhật Bản. Chi nhánh phía tây Nhật Bản của hiệp hội về dinh dưỡng và thực phẩm, và chi nhánh tây Nhật bản của hiệp hội khoa học và công nghệ, được tổ chức tại</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Kagoshima</em><em>). </em>Sarcoma tumor weight :Trọng lượng của khối u bướu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tumor weight decreased! : Trọng lượng khối u đã giảm!</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tumor weight    : Trọng lượng khối u</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Control group    : Nhóm mẫu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Group fed with fucoidan feed : Nhóm cho ăn thức ăn có chứa fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>NK cell activity : Mức độ hoạt hoá các tế bào diệt tự nhiên</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>NK activity, an indicator of immunity, increased : Khi tế bào NK hoạt động, có 1 chất chỉ thị trong hệ miễn dịch sẽ được tăng lên.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào miễn dịch được gọi là “các tế bào diệt tự nhiên ( các tế bào NK)” là các limpho bào kiểm soát việc sinh sản các tế bào dị thường trong cơ thể của chúng ta. Khi một tế bào biến đổi vì một lý do nào đó thì những tế bào NK này sẽ phát hiện ra sự biến đổi và tấn công các tế bào bị biến đổi. Nói cách khác, các tế bào NK có chức năng tiêu diệt các tế bào đã chuyển thành ung thư di chuyển đến những vị trí gần các tế bào ung thư này và sau đó phóng ra một chất được gọi là “granzyme” vào các tế bào ung thư. Với các granzyme, các tế bào ung thư sẽ nhanh chóng “tự huỷ diệt”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Sự tiêu huỷ các tế bào được gọi là “sự tự chết theo chu trình”. Khi các tế bào NK hoạt động, chúng sẽ tạo ra sự tự chết theo chu trình trong các tế bào ung thư. Cơ chế này đã được tiến sĩ Fujii chứng minh thông qua kết quả các cuộc thí nghiệm ông đã tiến hành, trong đó những con chuột được ăn những thức ăn có fucoidan cho thấy các mức độ hoạt hoá cao của tế bào NK và làm giảm trọng lượng của các khối u. Tại cuộc họp lần thứ 8 của Hội miễn dịch tự nhiên tổ chức tại Netherland vào tháng 4 năm 2004, tôi (tiến sĩ Tachikawa) đã trình bày kết quả nghiên cứu của tôi với tiêu đề: “Hiệu quả ngăn chặn ung thư của các thức ăn có chứa fucoidan”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tất cả các khán giả đều tỏ ra quan tâm đến nội dung của nghiên cứu này. Trong bài giới thiệu của mình, tôi đã báo cáo về một nghiên cứu trên cơ thể động vật, chi tiết của nghiên cứu này được giải thích cụ thể dưới đây. Trong nghiên cứu này, những con chuột bị tiêm sarcoma 180 vào dưới da được chia thành năm nhóm và được cho ăn các loại thức ăn như sau: 1 thức ăn bình thường (nhóm mẫu), 2 mozuku fucoidan, 3 mekabu fucoidan, 4 thức ăn chiết xuất từ sợi nấm mỡ, và 5 hỗn hợp fucoidan. Những con chuột này được cho ăn với lượng thức ăn tương đương trong vòng 30 ngày, sau đó “tác động của tế bào NK” và “trọng lượng khối u” của mỗi nhóm được đem ra so sánh.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Kết quả phân tích và so sánh “trọng lượng khối u” tìm thấy trong những nhóm nghiên cứu cho thấy rằng trọng lượng của khối u trong các nhóm đều giảm khoảng gần một phần ba ngoại trừ nhóm mẫu, nhóm được cho ăn thức ăn bình thường. Những con chuột trong các nhóm từ nhóm 2 đến nhóm 5 đều cho thấy trọng lượng khối u giảm (xem biểu đồ hình 8). Khi “các tế bào NK” của các nhóm được kiểm tra, được phân tích và so sánh thì những con chuột từ nhóm 2 đến nhóm 5 cho thấy các mức độ hoạt hoá tế bào NK cao. Tuy nhiên, trong số đó thì nhóm được cho ăn thức ăn hỗn hợp fucoidan cho thấy các mức độ hoạt hoá tế bào NK cao nhất(xem biểu đồ hình 9).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ngày nay, nhiều nhà nghiên cứu đã tiến hành hàng loạt thí nghiệm với fucoidan và nhiều cuộc thí nghiệm cho thấy các tế bào ung thư đã biến mất hoặc trở nên nhỏ hơn. Trong nhiều cuộc nghiên cứu, các nhà nghiên cứu đã kết luận rằng sự biến mất hoặc suy giảm các tế bào ung thư là do hiệu quả của fucoidan nhằm tăng khả năng miễn dịch trong các động vật được đem ra thí nghiệm và tấn công các tế bào ung thư trong cơ thể của chúng.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Nâng cao khả năng miễn dịch và tiêu diệt các tế bào ung thư – câu nói này nghe có vẻ quen thuộc, vì nó là tuyên bố chính xác cho nấm mỡ (agaricus), fomes yucatensis, và các loại nấm khác có tác dụng trong phương pháp điều trị ung thư. Các nghiên cứu đã cho thấy rằng fucoidan cũng có chức năng tương tự như vậy.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Người ta cũng chứng minh được rằng fucoidan nâng cao quá trình sản sinh của “interleukin-12 (IL-12) interferon-g (IFN-g)”</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 8</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>(Dữ liệu được trình bày tại Cuộc họp lần thứ 8 về Miễn dịch tự nhiên , lần thứ 12 tại Đại hội Quốc tế về Miễn dịch học)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Comparison of tumor growth suppression effect:So sánh tác dụng trong việc ức chế sự tăng trưởng khối u</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Comparison of NK cell activity in mouse spleen: So sánh sự hoạt hoá của tế bào NK trong lá lách chuột</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>1 Control : Nhóm mẫu                                                   2 Mozuku fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>3 Mekabu fucoidan                                                        4 thức ăn chiết xuất từ sợi nấm mỡ</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>5 hỗn hợp fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Interleukin-12 được sinh ra bởi các đại thực bào và các tế bào B, nó có hiệu quả hoạt hoá các tế bào T và các tế bào NK, do đó nâng cao tính hiệu quả của việc tấn công các tế bào ung thư. Interleukin-12 cũng kích thích sự sản sinh interferon-g nhờ các tế bào T và các tế bào NK.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Interferon-γ là một lymphokine (chất có hoạt tính sinh học) do các tế bào lympho sinh ra. Nó là một “công nhân chăm chỉ”, không những tấn công các virut và các tế bào ung thư một cách hiệu quả mà còn kích thích các đại thực bào và các tế bào NK. Ngoài ra, interferon-γ còn được sử dụng rộng rãi như một loại thuốc để chữa bệnh viêm gan C mãn tính và ung thư thận.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan kích thích “sự miễn dịch trong ruột”</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Như đã giải thích ở trên, “hệ miễn dịch” của chúng ta tấn công và chống lại các chất có hại bên trong thông qua các hoạt động hợp lực của nhiều tế bào miễn dịch và các chất có hoạt tính sinh học như các tế bào NK, đại thực bào và các interferon. Trong cơ thể chúng ta, tuỷ xương, tuyến ức, các hạch bạch huyết và các mạch máu đại diện cho các bộ phận trong cơ thể đóng góp vào hệ miễn dịch. Bên cạnh đó, đường ruột cũng là một bộ phận then chốt và lớn nhất – cung cấp sự miễn dịch cho cơ thể chúng ta. Chức năng miễn dịch do đường ruột cung cấp được gọi là “sự miễn dịch đường ruột” (intestinal immunity). Các bạn đã biết rằng hệ miễn dịch ngăn cản sự sinh sản của các chất gây hại như virut, các tác nhân gây bệnh và các nấm mốc trong cơ thể chúng ta. Đường ruột tạo ra một pháo đài vững chắc chống lại sự xâm nhập của các chất lạ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khoảng 60% các lympho bào trong cơ thể chúng ta tập trung ở đường ruột. Nếu các chất lạ thâm nhập vào đường ruột ,chúng sẽ để lại hậu quả nghiêm trọng cho cơ thể chúng ta. Trong trường hợp này, “sự miễn dịch đường ruột” thực sự là pháo đài cuối cùng. Thành các ruột non được bao phủ bởi 30 triệu lông tơ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bề mặt của những lông tơ này lại có các “tế bào biểu mô”, và “các tế bào T” nằm giữa các tế bào biểu mô. Người ta cho rằng những tế bào T này kiểm soát các tế bào biểu mô mà thường chuyển hoá và phát hiện ra nếu chúng trở thành ung thư. Khi tìm thấy các tế bào ung thư, các tế bào T sẽ nhanh chóng tiêu diệt chúng ngay.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 9.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ruột đóng một vai trò quan trọng trong hệ thống miễn dịch của chúng ta</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The interior cavity of the small intestines is lined with a countless number of “villi”</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>(Thành bên trong của ruột non được bao phủ một lượng vô số các“lông tơ”).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Small intestines : Ruột non</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Villi : Lông tơ</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các mao mạch (capillaries) chạy ngay dưới các tế bào biểu mô và “màng nhầy chính” (proper mucous membrane) được tìm thấy xung quanh các mao mạch này. Các đại thực bào (macrophages), các tế bào T, tế bào Bvà các “lympho bào” (lymphocytes) được tìm thấy ở màng nhầy chính, do đó tự nó tạo thành một hệ miễn dịch . Trong các màng nhầy chính (proper mucous membrane) có một lượng lớn các tế bào B tồn tại giữa các lympho bào (lymphocytes) và người ta cho rằng các tế bào B có chức năng tạo ra các kháng thể IgA, một chất hoạt động giống như một vũ khí chống lại các chất lạ. Trong các màng nhầy chính của ruột có một lượng IgA lớn, nó làm mất tác dụng của các chất lạ bao gồm các vi khuẩn, virut có hại và biến chúng trở nên vô hại. Đồng thời, ngăn cản sự phát triển của các vi khuẩn bên trong đường ruột.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trong các ruột non, có những mô miễn dịch được gọi là “mảng Peyer” (mảng kết tụ lympho bào trong ruột non). Mảng Peyer là trọng tâm điều khiển hệ miễn dịch đường ruột. Hệ miễn dịch này lại kiểm soát các chức năng miễn dịch của đường ruột. Các tế bào biểu mô bao phủ mảng Peyer bao gồm “các tế bào M”. Các tế bào M đẩy bất kỳ thứ gì thâm nhập vào các ruột non đến mảng Peyer. Trong những mảng Peyer, các đại thực bào (macrophages) kiểm tra mỗi chất để xác định xem liệu có thể chuyển các chất nhầy này đến ruột già được không. Nếu phát hiện ra những chất này có hại, các đại thực bào (macrophages) sẽ thông báo cho các tế bào hỗ trợ (helper T cells) xung quanh chúng. Các tế bào hỗ trợ T sẽ phóng ra cytokine và thông báo cho các lympho bào (lymphocytes) như đại thực bào (macrophages), các tế bào NK, tế bào tự diệt T (killer T) và các tế bào cùng có chức năng tấn công chất lạ. Các lympho bào (lymphocytes) cũng tạo ra một rào ngăn cản các mầm bệnh đi xa hơn. Khi đó chúng tạo ra một cái gọi là “hàng phòng thủ chắc chắn”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>VÌ VẬY, HỆ MIỄN DỊCH ĐƯỜNG RUỘT sẽ làm những công việc gì khi fucoidan xâm nhập vào các ruột non?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Đầu tiên, Fucoidan tạo ra các tế bào M trong mảng Peyer. Các đại thực bào (macrophages) đứng cạnh một Peyer nhầm xác định fucoidan như một chất gây hại. Đó là bởi vì fucoidan là một polisaccarit (polysaccharide) được tạo thành từ nhiều monosaccarit (monosaccharide) kết nối với nhau. Do có cấu trúc này mà fucoidan không bị vỡ khi ở trong dạ dày, v.v.. và hầu như không thay đổi khi xâm nhập vào các ruột non. Do đó, tất cả các lympho bào (lymphocytes) đều tấn công fucoidan. Việc tấn công này không phải là điều tệ hại bởi nó tạo ra hiệu quả của hoạt hoá các lympho bào và cuối cùng nâng cao khả năng phòng chống mầm bệnh của chúng ta.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trong những năm gần đây, các nhà nghiên cứu tìm hiểu fucoidan đã đưa ra các giả thuyết rằng một chất protein có tên gọi là “TLR” (Toll-Like-Receptor – thụ thể Toll-Like: một thụ thể cần thiết cho sự bảo vệ tự nhiên của cơ thể chống lại sự nhiễm trùng dạng nấm (mycotic infection)).Các chất “TLR” được tìm thấy trên bề mặt của các tế bào cung cấp chức năng tạo ra kháng thể này cũng tham gia vào sự miễn dịch đường ruột. Nói cách khác, các nhà nghiên cứu cho rằng khi fucoidan- một polysaccarit (polysaccharide)- kích thích sự miễn dịch đường ruột và kích hoạt hệ miễn dịch của nó thì các TLR này tạo ra một quá trình truyền dẫn đặc biệt đến các tế bào khiến chúng tấn công các mầm bệnh khác và cuối cùng sẽ nâng cao hiệu quả của sự miễn dịch. Điểm then chốt ở đây fucoidan là một polyme (Polymer &#8211; hợp chất cao phân tử) mà có thể kích thích sự miễn dịch đường ruột. Với chúng ta, để duy trì sức khoẻ thì điều quan trọng là cơ thể chúng ta duy trì được sức đề kháng chống lại các mầm bệnh, các virut và lúc nào cũng duy trì được khả năng miễn dịch cao. Tương tự như vậy, đối với bệnh ung thư. Tuy nhiên, sẽ bị thiếu sót nếu không nói thêm rằng, để không mắc bệnh ung thư chúng ta cần phải nâng cao khả năng miễn dịch.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tại sao chức năng kích hoạt sự miễn dịch của fucoidan lại khiến các tế bào ung thư co lại?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bây giờ chúng tôi sẽ giải thích ngắn gọn cho các bạn về chức năng kích hoạt sự miễn dịch của fucoidan (mặc dù cơ chế hoạt động của fucoidan thực sự rất phức tạp). (Lưu ý rằng các thông tin đưa ra sau đây dựa trên thuyết mới nhất và một số phần vẫn dựa trên các giả thuyết). Có nhiều tế bào kiểm soát sự miễn dịch của chúng ta. Đại diện của một trong số các tế bào này gồm có các bạch cầu hạt (granulocytes), các đại thực bào (macrophages), các tế bào NK và các lympho bào (lymphocytes), các tế bào này cùng hợp tác để nâng cao khả năng miễn dịch, tấn công và đẩy lùi các tế bào ung thư. Trong số các tế bào này, các tế bào dạng lympho bào như đại thực bào, các tế bào NK và các tế bào T có vai trò rất quan trọng</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 10.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hoạt động kích hoạt miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Benefits on cancer treatment; some based on hypothesis</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Những lợi ích về điều trị ung thư; dựa trên những giảthuyết</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Polymer : Hợp chất cao phân tử</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Antigen presentation cells: Những tế bào tạo ra kháng thể</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Dendritic cells: Những tế bào hình cây</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Auxiliary stimulation by CD80/86: Sự kích thích bổ trợ bởi CD80/86</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào T bao gồm cả các tế bào hỗ trợ T (helper T), các tế bào điều hoà T (suppression T) và các tế bào tự diệt (killer T). Về mặt miễn dịch trong trường hợp điều trị bệnh ung thư thì các tế bào hỗ trợ T và tế bào diệt T được quan tâm hơn cả.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào hỗ trợ T (helper T) được phân loại thành loại 1 (=Th1) và loại 2 (=Th2). Khi các đại thực bào (macrophages), giải phóng IL-12 (= interleukin-12), các tế bào hỗ trợ T loại 1 (Th1) được kích hoạt. Các tế bào NK hay các tế bào diệt tự nhiên phân biệt các tế bào mô và giải phóng perforin tại các tế bào u đã xác định phá huỷ màng tế bào của chúng và cuối cùng tiêu diệt các tế bào ung thư. Hoạt động này của các tế bào được kích hoạt bởi IL-2 (= interleukin-2; một nhân tố phát triển của tế bào T) do loại Th1 giải phóng.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Như các bạn có thể thấy, có rất nhiều tế bào liên quan và hoạt động một cách phức tạp để tạo ra sự miễn dịch trong cơ thể chúng ta. Ngoài ra, các phản ứng miễn dịch do “hệ miễn dịch đường ruột” và “TLR” (Toll-Like-Receptor) cũng kích thích các đại thực bào để giải phóng IL-12 và IFN-γ được giải phóng và các tế bào NK, các tế bào T cytotoxic được kích hoạt. Cũng theo cách “hoạt động tạo ra sự tự phân huỷ” và “hoạt động hoạt hoá sự miễn dịch” của fucoidan tạo ra các hiệu quả tương hỗ nhằm cung cấp các chức năng đặc biệt đóng góp vào chiến dịch điều trị ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Như đã chỉ rõ trong hình minh hoạ phía trên, Th1 giải phóng ra IFN-γ làm giảm kháng thể IgE. Ngược lại, Th2 lại giải phóng ra IL-4 (= interleukin-4; một nhân tố tăng trưởng tế bào B) giúp nâng cao kháng thể IgE. Th2 mang tính vượt trội trong những bệnh nhân chịu khổ vì bệnh ung thư và dị ứng. Vậy thế nào để tách Th2 và làm cho Th1 mang tính vượt trội là một chiến lược quan trọng trong phương pháp điều trị bệnh ung thư. “Th1” là tên của các tế bào hỗ trợ T (helper T) ở giữa các lympho bào T (T lymphocytes) mà giải phóng IL-2, IFN-γ và các cytokine khác. IL-2 là nhân tố nâng cao CTL (các tế bào cytotoxic T).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 11</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Những yếu tố quan trọng trong chiến lược điều trị ung thư</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào ung thư sẽ biến mất qua những hiệu ứng điều phối của 3 hành động</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>chống ung thư. Đây là tính năng chủ chốt, nói lên sự khác biệt giữa rau biển</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>fucoidan và tất cả các loại thực phẩm chức năng tuyên bố có tác dụng chống ung thư khác.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Apoptosis inducing action: Hoạt động tăng cường tự chết theo chu trình</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Immunity activation action: Hoạt động kích hoạt miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Angiogenesis suppression : Hoạt động ngăn chặn sự tạo mạch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Nói cách khác, hai tác nhân quan trọng trong chiến lược điều trị bệnh ung thư là tăng “phản ứng miễn dịch” (immune response) bằng cách kích hoạt khả năng sản sinh IFN-γ và IL-2. Nhờ đó, nâng cao các phản ứng của IFN-γ và IL-2 để kích thích các tế bào CTL và tế bào NK. Đồng thời, tạo ra “sự tự chết theo chu trình của các tế bào”. Fucoidan tạo ra một môi trường có tính vượt trội Th1 và nâng cao phản ứng của TL-2 để tăng CTL và kích thích các tế bào NK. Đó là lý do tại sao fucoidan thực sự có hiệu quả trong điều trị bệnh ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 12</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cơ chế ngăn chặn sự tạo mạch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Blood vessel : Mạch máu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cancer cells send signal to nearby blood vessel to make them come closer to themselves. This process is called “angiogenesis”. New blood vessel serve as routes through which nutrients are transported to cancer cell.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào ung thư gửi tín hiệu vào những mạch máu gần đó để chúng có thể đến gần nhau hơn. Quá trình này gọi là “tạo mạch”. Những mạch máu mới có tác dụng như những tuyến đường mà thông qua đó, các chất dinh dưỡng được vận chuyển đến các tế bào ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The tumor grows by getting nutrients and oxygen from capillaries that have entered the tumor. These capillaries may also allow cancer cells to metastasize to other parts of the body.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khối u phát triển bởi nhận được các chất dinh dưỡng và oxy từ mao mạch đã thâm nhập vào khối u. Những mao mạch này cũng có thể cho phép các tế bào ung thư di căn đến các bộ phận khác của cơ thể.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>A “substance that suppresses angiogenesis” prevents generation of capillaries and thereby cuts off the supply of nutrients and oxygen to cancer cells. As a result, cancer cells will weaken.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Việc “ngăn chặn tạo mạch” ngăn ngừa sự phát sinh của những mao mạch và giảm bớt sự cung cấp các chất dinh dưỡng và oxy tới những tế bào ung thư. Và kết quả những tế bào ung thư bị suy yếu đi.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Khả năng 3 Ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới, lấy đi các chất dinh dưỡng của các tế bào ung thư.</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Như đã giải thích ở trên, trước tiên fucoidan khiến các tế bào ung thư tự giết chúng (bằng cách tạo ra sự tự chết theo chu trình (apoptosis)). Tiếp sau đó, fucoidan kích thích tới các mức độ cao nhất các đại thực bào (macrophages), các tế bào NK và các tế bào miễn dịch khác, những tế bào tạo thành hệ miễn dịch tự nhiên của chúng ta để giúp chúng tấn công các tế bào ung thư một cách có hiệu quả. Tuy nhiên, đây không phải là khả năng duy nhất của fucoidan. Fucoidan còn có vũ khí thứ ba nữa, đó là “hoạt động ngăn chặn sự hình thành mạch”.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các tế bào ung thư bám rễ vào các mô trên khắp cơ thể chúng ta và bắt đầu tạo thành các mô. Khi các tổn thương ung thư phát triển đến một mức độ nhất định, các tế bào ung thư sẽ cần phải được cung cấp các chất dinh dưỡng và khí oxy. Để tách ra và phát triển, các tế bào ung thư sẽ tạo ra các mạch máu mới xung quanh chúng để lấy chất dinh dưỡng và khí oxy thông qua những mạch máu này. “Những mạch máu mới”này hoạt động giống như những cái rễ mà từ đó các tế bào ung thư gây ra di căn. Sự sinh sản các mạch máu mới kết nối với ung thư được gọi là “sự hình thành các mạch máu mới” (angiogenesis). Các nhà nghiên cứu đang tìm nhiều phương thuốc để ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới. Nếu chúng ta có thể ngăn chặn sự hình thành các mạch máu mới kết nối với ung thư, chúng ta có thể cắt đứt các rễ cung cấp cho các tế bào ung thư và cuối cùng tiêu diệt bệnh ung thư.Các nhà nghiên cứu đã cho thấy rằng fucoidan có “tác dụng ức chế sự hình thành các mạch máu mới” này.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 13.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Thí nghiệm trên “chức năng ngăn chặn sự tạo mạch”của fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Action to inhibit lumen formation : Hoạt động ức chế sự hình thành khoang bên trong thành mạch máu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Microscope examination : Kiểm tra bằng kính hiển vi</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>HUVEC : Tế bào máu từ cuống rốn</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Test sample : Mẫu thử nghiệm</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tại Đại hội Quốc tế và Miễn dịch học lần thứ 12 được tổ chức tại Canada vào tháng 7 năm 2004, dữ liệu về một nghiên cứu đã được đưa ra cho thấy hiêụ quả ức chế sự hình thành lumen liên kết với các tế bào máu từ cuống rốn (human imbilical vein endothelial &#8211; HUVEC) của fucoidan đã được kiểm tra. Trong thí nghiệm này, cả fucoidan mozuku và fucoidan mekabu đều cho thấy khả năng ức chế sự hình thành các lumen liên kết với HUVEC cao (xem biểu đồ hình 13). Nói cách khác, fucoidan phá vỡ sự hình thành các mạch máu mới giúp chuyển chất dinh dưỡng và khí oxy cho các tế bào ung thư và giúp các tế bào ung thư tạo ra sự di căn. Các nghiên cứu cho thấy rằng ở những bệnh nhân không sử dụng fucoidan thì thời gian đầu các tế bào ung thư phát triển đến một mức độ nhất định, và khi tạo ra được các mạch máu mới xung quanh chúng thì tốc độ phát triển của chúng bắt đầu tăng nhanh.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 14</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan đã được phát hiện về sự cung cấp tác động ngăn chặn tạo mạch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>12th International Congress on Immunology: Hội nghị Miễn dịch học Quốc tế lần thứ 12</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Score: điểm</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Những nghiên cứu này cũng cho thấy rằng các bệnh nhân sử dụng fucoidan không có những thay đổi như vậy trong tốc độ tăng trưởng của các tế bào ung thư. Các kết quả này cho thấy rõ ràng rằng fucoidan đang ức chế sự sinh sản của các tế bào máu mới.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hãy cùng tóm tắt lại những gì chúng ta đã nghiên cứu sau đây:</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>1 Fucoidan khiến các tế bào ung thư tự chết theo chu trình (apoptosis)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>2 Fucoidan nâng cao khả năng miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>3 Fucoidan ức chế sự hình thành và phát triển mạch máu mới (angiogenesis)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các hiệu quả tổng hợp của “ba khả năng chống ung thư này” thực sự đáng ngạc nhiên. Đó là lý do tại sao các phương tiện thông tin đại chúng nói nhiều đến fucoidan và fucoidan không chỉ gây nhiều chú ý cho y học ở Nhật Bản mà còn cho cả y học trên toàn Thế giới.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 15</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hoạt động ngăn chặn sự tạo mạch.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>No entry : Không có lối vào</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Stop right there : Ngừng tại đây</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>We can’t generate new blood vessels: Chúng không thể tạo ra những mạch máu mới</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Blood vessels : Mạch máu</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Sea vegetable fucoidan suppresses generation of “new blood vessels” through which cancer cells receive nutrients, and thereby prevents metastasis.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Rau biển fucoidan ngăn chặn sự hình thành các “mạch máu mới” mà thông qua đó các tế bào Ung thư sẽ nhận được dinh dưỡng và do đó ngăn ngừa sự di căn của tế bào ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Phỏng vấn Bác sỹ ung thư Tachikawa.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Trường hợp lâm sàng 1 Ung thư dạ dày (Stomach cancer)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan tạo ra phương thuốc hiệu quả</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Bác sỹ đã sử lý nhiều ca ung thư. Vậy bác sỹ có ấn tượng đặc biệt với bệnh nhân nào không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tôi còn nhớ một bệnh nhân đã đến bệnh viện của chúnh tôi vào tháng 2 năm 2004. Đó là bệnh nhân A khoảng 50 tuổi. Anh ta đã phải cắt bỏ toàn bộ dạ dày cách đó 5 năm do bi “ung thư dạ dày”. Anh ta cũng đã phải phẫu thuật cắt bỏ lá lách, túi mật và trải qua thủ thuật cắt bỏ hạch bạch huyết (lymphadenectomy). Bệnh nhân này đã bị ung thư giai đoạn IIIa. Sau khi phẫu thuật, bênh nhân này không hề được điều trị bằng hoá trị liệu (chemotherapy) và còn bị tái phát với các triệu chứng nghiêm trọng hơn liên quan đến bệnh “tắc ruột”. Đầu năm 2004, tình hình bệnh của anh ta ngày càng xấu hơn và khi bệnh viện kiểm tra họ đã phát hiện ra chỗ co hẹp của trực tràng (rectum) do di căn màng bụng (peritoneal metastasis) (di căn Schnitzer) với ruột già/đại tràng đi xuống (descending colon) và đại tràng cong hình chữ Z cũng có những chỗ co hẹp. Bệnh nhân này đã được chẩn đoán là bị “viêm màng bụng dạng ung thư” (cancerous peritonitis). Thậm chí bệnh viện đã tính đến việc phải đặt một hậu môn giả và bắt đầu điều trị bằng hoá trị liệu có sử dụng TS-1. Tuy nhiên, sau khi phát hiện ra rằng anh ta cũng mắc “bệnh gan” (hepatopathy) thì bệnh viện đã cho sử dụng Taxotere, một loại thuốc chống ung thư thay cho việc điều trị hoá trị liệu.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 16</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp &lt;Ung thư dạ dày&gt; Bệnh nhân A (khoảng 50 tuổi)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Vậy bệnh nhân này ở trong tình trạng thực sự tồi tệ?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>“Tắc ruột” khiến anh ta không thể ăn một cách bình thường, anh ta đã đến tiếp tục điều trị bằng Taxotere. Tuy nhiên, chúng tôi nhận thấy rằng Taxotere tạo ra các tác dụng phụ. Sau khi trao đổi với bệnh nhân và được sự chấp thuận của anh ta, chúng tôi quyết định sử dụng TS-1 cùng với fucoidan để ngăn chặn các tác dụng phụ</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Chúng tôi đã sử dụng liệu pháp khí oxy áp lực cao “high-pressure oxygen therapy” nhằm nâng cao hiệu quả của phương pháp hoá trị liệu để cải thiện tình trạng tắc ruột.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Vậy kết quả thế nào?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bệnh nhân được sử dụng TS-1 với liệu trình điều trị trong vòng 4 tuần và nghỉ khoảng 2 tuần. Sau liệu trình đầu bệnh nhân đã có thể ăn được. Chúng tôi đã rất ngạc nhiên với sự phục hồi dần dần tại phần co hẹp của trực tràng và đại tràng. Anh ta cũng hoàn toàn không bị các phản ứng phụ do thuốc chống ung thư gây ra. Bệnh nhân đã được uống khoảng gần 4g fucoidan, tương đương với 20 viên con nhộng mỗi ngày. Cuối cùng, chỗ hẹp đã to ra đến mức bệnh nhân không còn phải dùng hậu môn giả nữa. Đến tháng 5, anh ta đã có thể tự bài tiết.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Bây giờ thì anh ta đang làm gì?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Anh ta sẽ tiếp tục điều trị ngoại trú mỗi tháng một lần và đã phục hồi rất tốt, những chỗ bị co hẹp khá nhiều do các thương tổn ung thư đã khỏi.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tước khi điều trị,bệnh nhân không thể ăn được chút gì và không thể uống các thuốc chống ung thư cần thiết. Tuy nhiên, nhờ có fucoidan anh ta đã có thể uống thuốc mà không hề bị các tác dụng phụ. Quả là một điều đáng ngạc nhiên khi anh ta phục hồi đến mức chỉ cần đến bệnh viện mỗi tháng một lần mà không mất đi CLCS.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 17.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>&lt;Trường hợp ung thư dạ dày&gt;.Bệnh nhân A (50 tuổi)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Patient A had suffered repeated cases of “intestinal obstruction” triggered by “Stomach cancer”. The image taken on March 24 shows that the intestinal tract was Almost entirely compressed due to cancer.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>After receiving the administration of fucoidan, however, the intestinal tract began to open, Shown by the image taken on May 21, and on October 12 his intestinal tract roughly returned to a normal state.</strong></p>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bệnh nhân A đã chịu đựng những trường hợp lặp đi lặp lại của “tắc nghẽn đường ruột” gây ra bởi bệnh ung thư dạ dày.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình ảnh chụp ngày 24-3 cho thấy đường ruột gần như hoàn toàn bị nén lạivì bệnh ung thư. Tuy nhiên, sau khi nhận được sự điều trị của fucoidan đường ruột đã bắt đầu mở. Hình ảnh chụp ngày 21-5 và ngày 12-10 cho thấy đường  ruột của anh ấy đã trở lại một trạng thái bình thường.<br />
</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Trường hợp lâm sàng 2 Ung thư buồng trứng (Ovarian cancer)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>…</em>Thế còn các bệnh nhân khác?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Ca này là một bệnh nhân nữ khoảng 30 tuổi. Vào tháng 10 năm 2003, sau khi thấy có hiện tượng bụng sưng phồng, bệnh nhân đã đến khám tại một bệnh viện đại học. Cô ta được chuẩn đoán là “ung thư buồng trứng trái” (left ovarian cancer). Cô ta còn có triệu chứng viêm màng bụng dạng ung thư (cancerous peritonitis) và các tràn dịch màng bụng dạng ung thư (cancerous ascites). Các bác sỹ đã khuyên cô nên phẫu thuật, điều trị hoá trị liệu (chemotherapy) và điều trị bằng tia X (radiotherapy). Tuy nhiên cô ta đã từ chối tất cả các phương pháp điều trị và đã đến bệnh viện của chúng tôi vào ngày 11 tháng 11 để có được sự lựa chọn thứ hai và cũng được tư vấn về fucoidan. Sau khi khám, tôi cũng đã khuyên cô ấy mổ, điều trị hoá trị liệu (chemotherapy) và điều trị bằng tia X (radiotherapy) giống như các bác sỹ tại bệnh viện đại học đã khuyên. Cô ấy vẫn không muốn mổ hay được điều trị bằng bất kỳ phương pháp truyền thống nào. Cô ấy đã suy nghĩ về quá trình trị liệu trong khoảng một tuần và đã quay trở lại bệnh viện. Lần này, cô ấy đi cùng với chồng và bố mẹ.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 18</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp &lt;Ung thư buồng trứng&gt; Bệnh nhân B (khoảng 30 tuổi)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Chúng tôi đã trao đổi về các phương án điều trị một cách kỹ càng nhưng cô ấy vẫn không muốn mổ hay sử dụng liệu pháp hoá trị liệu (chemotherapy). Chúng tôi tôn trọng mong muốn của cô ấy và đã tiến hành chữa trị chỉ dựa trên trị liệu bằng fucoidan. Cô ấy đã uống khoảng 8g fucoidan dưới dạng chất lỏng.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Bệnh của cô ấy đã tiến triển như thế nào sau khi điều trị?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Chúng tôi đã điều trị tràn dịch màng bụng (ascites) cho cô ấy bằng cách đục một lỗ trên khoang bụng để lấy chất dịch ra. Mỗi lần, chúng tôi rút khoảng 3000 đến 4000 cc chất dịch. Mặc dù dựa trên kinh nghiệm về lâm sàng, chúng tôi biết số lượng dịch còn khá nhiều, nhưng chúng tôi đã quyết định chỉ lấy ngần đó dịch mỗi lần để đảm bảo mặt thẩm mỹ (ngoại hình). Lúc đầu, cô ấy phải trích mỗi tháng một lần, nhưng sau đó khoảng cách giữa các lần trích lấy dịch dài hơn và bây giờ khoảng 1.5 đến 2 tháng cô ấy mới phải trích một lần.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>                      </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 19</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp &lt;Ung thư buồng trứng&gt; Bệnh nhân B (khoảng 30 tuổi)</strong></div>
<p style="text-align: justify;"><strong>The “Ovarian cancer” lesion is indicated by a circle. The images show how the cancerous Lesion became smalle Tổn thương “ung thư buồng trứng” được hiển thị bởi những vòng tròn. Những hình ảnh trên đây ho thấy tổn thươngung thư ngày càng nhỏ hơn.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> Kích thước của khối u cũng được thu nhỏ. Lúc đầu, khối u to khoảng 11cm, sau đó nhỏ lại còn 7cm và bây giờ chỉ còn 6cm. Phần trung tâm của tổn thương ung thư bắt đầu bị hoại tử và chúng tôi tin rằng đó là do “sự hình thành  các mạch máu mới” đã bị ức chế (xem từ trang 30 đến trang 33) hoặc các tế bào ung thư đã tự chết theo chu trình (apoptosis).</strong></p>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Vậy là phương pháp điều trị cho cô ấy rất hiệu quả?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Đúng vậy, mặc dù theo các chuẩn đoán tế bào thì hiện tượng tràn dịch màng bụng vẫn ở giai đoạn VI, nhưng các tổn thương ung thư của bệnh nhân này đang co lại và cô ấy đang có một sống bình thường, ngoại trừ cứ 1.5 đến 2 tháng cô ấy lại phải đến chỗ chúng tôi một lần. Đó thực sự là điều đáng ngạc nhiên, cô ấy không hề sử dụng bất kỳ phương pháp trị liệu nào ngoài việc uống fucoidan.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em>Trường hợp lâm sàng 3 Ung thư tiền liệt tuyến (Prostate Cancer)</em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><em> </em></strong></div>
<div style="text-align: justify;"></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hình 20</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trường hợp &lt;Ung thư tiền liệt tuyến&gt; Bệnh nhân E (khoảng 70 tuổi)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>The gray area shown by a circle is the “prostate cancer” lesion. In just two months after the patient began taking fucoidan, the tumor became visibly smaller.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Trong vùng màu xám hiển thị theo một vòng tròn là các thương tổn “ung thư tuyến tiền liệt”. Sau hai tháng khi bệnh nhân bắt đầu điều trị bằng fucoidan, rõ ràng các khối u đã trở nên nhỏ hơn.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>…Có đúng là không chỉ các thuốc điều trị ung thư có tác dụng phụ mà cả các thuốc hoóc môn (thuốc kích thích) cũng gây ra các tác dụng phụ?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các thuốc hoóc môn thường được sử dụng phổ biến trong điều trị “ung thư vú”(breast cancer) và “ung thư tiền liệt tuyến” (prostate cancer) và thực sự chúng cũng gây ra các tác dụng phụ. Tuy nhiên, fucoidan có thể giảm các tác dụng phụ này của các thuốc hoóc môn. Tôi sẽ kể cho bạn nghe một ví dụ về bệnh nhân E, khoảng 70 tuổi, được chuẩn đoán là bị “ung thư tiền liệt tuyến”. Bệnh nhân này đã được chuẩn đoán bị ung thư tiền liệt tuyến năm 2003 và đã được xếp lịch để phẫu thuật. Tuy nhiên, ông ta đã có biểu hiện viêm nhiễm và cuộc phẫu thuật bị hoãn lại. Ông ta được điều trị bằng hoóc môn như là một phương pháp tạm thời. Tuy vậy, xét nghiệm dấu hiệu sinh học khối u PSA (PSA tumor marker) của ông ta cho thấy dấu hiệu sinh học khối u vẫn không được ổn định và ông ta cảm thấy toàn bộ cơ thể đang rất khó chịu, các triệu chứng này có thể là do một phản ứng phụ của hoóc môn gây nên. Không chỉ có vậy, ông ta bắt đầu bị bất lực (impotence). Vì thế, bệnh nhân này đã dừng điều trị bằng hoóc môn và đến bệnh viện của chúng tôi vào tháng 2 năm 2004. Mong muốn tha thiết của ông ta là duy trì được chức năng đàn ông và điều trị bệnh ung thư mà không cần phải dùng đến các biện pháp phẫu thuật hay trị liệu bằng hoóc môn.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tôn trọng mong muốn này của người bệnh, chúng tôi đã quyết định điều trị cho ông ấy bằng cách kết hợp fucoidan với một isoflavone loại aglycon. Mặc dù, isoflavone có cấu trúc hoá học giống estrogen nhưng nó không có những phản ứng hoóc môn mạnh. Bệnh nhân này đã bắt đầu thời gian điều trị ngoại trú cứ 1.5 đến 2 tháng một lần và chúng tôi thu được những kết quả rất khả quan. Mức độ PSA của ông ta đã giảm từ 10.0 trước khi điều trị xuống còn 0.96 trong vòng 2 tháng và cuối cùng giảm xuống còn 3.74 và rồi còn 3.62 dưới cả mức bình thường là 4.0. Các hình ảnh chụp CT cũng cho thấy rõ ràng khối u của ông ta đã co nhỏ lại. Ông ta đang tiếp tục điều trị mà không hề giảm CLCS (QOL) bởi vì “khả năng đàn ông” của ông ta không hề bị ảnh hưởng.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khả năng kỳ diệu khác của Fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Không ngạc nhiên khi Fucoidan cũng mang lại nhiều lợi ích to lớn trong việc điều trị các bệnh người lớn khác ngoài bệnh ung thư. Ví dụ, fucoidan cũng đem lại hiệu quả cho các bệnh nhân bị các bệnh về tim, xơ cứng động mạch, đột quỵ, đái tháo đường, loét dạ dày và các bệnh dị ứng khác. Ví dụ, các thí nghiệm do Đai học Kagoshima tiến hành và các thí nghiệm trên động vật do Phòng Nghiên cứu Fucoidan của Đại học Fukuoka đã tiến hành chứng minh rằng fucoidan có các tác dụng và hiệu quả dược lý sau: 1 hiệu quả chống ung thư và u bướu, 2 tác dụng kích thích sự miễn dịch, 3 tác dụng gây ra sự tự chết theo chu trình của các tế bào (apoptosis), 4 tác dụng ức chế sự hình thành và phát triển các mạch máu mới (angiogenesis), 5 tác dụng ức chế hiện tượng đông máu (blood coagulation), 6 tác dụng giảm Colexteron (cholesterol) trong máu, 7 tác dụng ngăn ngừa cao huyết áp, 8 tác dụng ngăn ngừa sự gia tăng nồng độ đường trong máu, 9 tác dụng chống vi khuẩn Helicobacter Pylori, tác dụng chống viêm và tác dụng cải thiện tình trạng bất ổn của dạ dày, 10 tác dụng giảm cảm mạo (hay fever), các bệnh dị ứng (atopic conditions), và các dị ứng khác, 11 tác dụng chống virut và chống vi khuẩn, 12 tác dụng chống oxy hoá (oxydative) và 13 kích thích mọc tóc.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Luận án về tác dụng chống u bướu của Fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các luận án dưới đây được trích từ các luận án công bố trên Thư viện y khoa trên mạng PubMed của Viện Y Tế Quốc Gia Hoa Kỳ. Bạn có thể truy cập trang web: <a href="http://www.pubmed.gov/">www.pubmed.gov</a> để kiểm tra chi tiết hơn các luận án dưới đây hoặc cũng có thể kiểm tra bằng cách nhập các từ khóa: Fucoidan và ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Học viện Trung tâm Ung thư Quốc gia Nhật Bản (2003)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan đã gây được nhiều chú ý do thành phần an toàn của nó có thể giúp giảm thương tổn của bệnh viêm và ung thư dạ dày do vi khuẩn Helicobacter Pylori gây ra.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Cao đẳng Dược của Pháp (Khoa Dược) tại Pari (2005)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan ức chế các tế bào dị thường mới hình thành bám vào các tế bào khỏe của</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>con người (Ngăn ngừa sự phát triển của các tế bào ung thư).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khoa Y, Đại học Keio Nhật Bản (2005)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan ức chế một tế bào phát triển thành các u bạch huyết (ung thư bạch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>huyết – lymphocancer) và gây ra sự tự chết theo chu trình của tế bào (sự tự</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>chết của các tế bào ung thư).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Đại học Yoense Hàn Quốc (Bác sỹ Hwang) (2005)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan là một chất kích thích của bạch huyết và các thực bào (các tế bào</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>miễn nhiễm) để tấn công các tế bào ung thư (Hoạt động điều hoà sự miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>(immunoregulation) của Fucoidan và hợp chất Arabinogalactan bên ngoài cơ thể).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Bộ môn Khoa học Dược, Đại học Fukuoka Nhật Bản (2003)</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Khẳng định Fucoidan ngăn chặn sự phân phối mạch máu của bệnh ung thư và góp</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>phần nâng cao hiệu của tác dụng chống u bướu.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Các câu hỏi thường gặp về Fucoidan</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q1. Fucoidan là cái gì?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan là một sợi thức ăn được hoà tan trong nước như một thành phần của “chất nhầy” có trong các rong biển như mozuku (nemacystus decipiens) và mekabu (phần bị gấp lại của wakame). Thành phần hoá học của Fucoidan là một thuật ngữ chung chỉ một nhóm polysaccarit (polysaccharide) chứa đường fucose sunfat. So với các rong biển khác như wakame thì mozuku Okinawa có chứa nhiều Fucoidan nhất. Giáo sư Kylin.H. Z của Đại học Swedish Úppala đã tìm ra fucoidan trong thành phần nhựa của kombu vào năm 1913 nhưng khi đó nó được gọi là fucoidin. Sau đó, nó bắt đầu được gọi là fucoidan do sự thống nhất đặt tên quốc tế cho các hợp chất hữu cơ gluxit (glucide).</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q2.Tôi nên sử dụng Fucoidan bao nhiêu mỗi ngày?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Để duy trì sức khoẻ hằng ngày, bạn nên dùng ít nhất một gam fucoidan mỗi ngày. Nếu bạn mắc “một căn bệnh liên quan đến lối sống” như bệnh đái tháo đường (diabetes) hay bệnh huyết áp cao và muốn giảm tình trạng bệnh, hãy dùng hai hoặc ba gam fucoidan mỗi ngày. Nếu bạn mắc bệnh ung thư hoặc các bệnh nghiêm trọng khác, thì mỗi ngày bạn phải dùng một liều tối thiểu từ ba đến sáu gam.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q3. Tôi có thể uống các thuốc khác trong khi sử dụng Fucoidan không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Hãy nhớ fucoidan không phải là thuốc. Nó là một thành phần tự nhiên có trong mozuku (Nemacystus decipiens) và mekabu (phần bị gấp lại của wakame (Undaria pinnatifida)). Nên không hề có ảnh hưởng xấu khi uống các thuốc được kê theo đơn cùng với fucoidan bởi vì nó giống như uống các thuốc này sau khi ăn rong biển.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q4. Có cách nào dùng fucoidan để tạo ra tác dụng điều trị ung thư tốt hơn không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Để tối đa hoá khả năng điều trị ung thư của fucoidan, bạn nên sử dụng sản phẩm này bốn lần một ngày: vào buổi sáng, trưa, tối và trước khi đi ngủ. Khả năng miễn dịch tự nhiên của cơ thể lớn nhất trong ngày khi chúng ta hoạt động và nó giảm xuống khi cơ thể chúng ta nghỉ ngơi (khi chúng ta ngủ). Ngược lại, các tế bào ung thư thì hoạt động nhiều nhất khi chúng ta nghỉ ngơi. Vì thế, uống fucoidan trước khi đi ngủ là rất quan trọng. Tuy nhiên, bạn cũng không nên lo lắng do đã hấp thụ quá nhiều fucoidan, vì thực chất nó giống như bạn đang ăn rong biển.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q5. Liệu có bất kỳ tác dụng phụ nào không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Fucoidan được chiết xuất từ mozuku và mekabu, nó là một chất tự nhiên nên không có tác dụng phụ. Không giống như việc uống thuốc quá liều, fucoidan không hề gây ra các tác dụng phụ nào ngay cả khi uống quá nhiều.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q6. Có phải fucoidan chỉ phù hợp cho những người bị bệnh?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Chắc chắn fucoidan có nhiều chức năng và hiệu quả. Theo báo cáo, fucoidan đã được sử dụng cho nhiều ca mắc các bệnh loét dạ dày, huyết áp cao và đái tháo đường. Do đó, fucoidan cũng mang lại lợi ích cho những người khoẻ mạnh. Nếu những người khoẻ mạnh hấp thụ fucoidan, nó sẽ có ích để ngăn ngừa bệnh ung thư và các bệnh người lớn một cách hiệu quả.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q7. Các loại ảnh hưởng nào sẽ xuất hiện nếu bạn uống fucoidan.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Đối với một vài người, họ sẽ có các biểu hiện đi ngoài phân mềm trong vòng ba đến bốn ngày. Đó là bởi vì fucoidan là một sơi rau nên có các chức năng làm sạch ruột, một vài ngày sau họ sẽ trở lại bình thường. Đi ngoài phân mềm không có nghĩa là bị mắc bệnh tiêu chảy. Nói cách khác, một triệu chứng không bình thường của ruột như táo bón sẽ không còn và cử động của ruột sẽ được cải thiện.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Nói chung, fucoidan sẽ đem lại những lợi ích lâu dài sau cho các bệnh nhân:</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Tình trạng cơ thể được cải thiện và nước bọt ngọt hơn.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Lấy lại được vị giác và nâng cao chức năng của hệ tiêu hoá.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Làm giảm bớt các phản ứng phụ của hoá học trị liệu (chemotherepy) và giảm bớt cơn đau do bệnh ung thư gây ra.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Tăng khả năng miễn dịch</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>● Cho thấy phản ứng lâm sàng của việc giảm tác nhân gây u bướu (tumor maker) hoặc giảm các tế bào ung thư.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Tuy nhiên, nếu một người khoẻ mạnh uống fucoidan, họ có thể nhận thấy sự thay đổi về thể chất; mỗi lợi ích đều cho thấy sự khác biệt riêng. Đặc biệt với phụ nữ, fucoidan giúp họ có nước da đẹp hơn và ảnh hưởng tích cực đến chu kỳ kinh nguyệt.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q8. Cơ chế gì của Fucoidan tiêu diệt vi khuẩn Helicobacter Pylori gây ra ung thư dạ dày và loét dạ dày?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Vi khuẩn Pylori “bám vào các gốc muối axit sunfuric (sulfate groups)”. Điều này thường xảy ra với các gốc muối axit sunfuric trong màng nhầy dạ dày; khi một fucoidan xâm nhập vào dạ dày, các gốc muối axit sunfuric trong fucoidan thu hút các vi khuẩn Pylori bám vào. Các vi khuẩn Pylori bám vào các gốc muối axit sunfuric trong fucoidan sẽ được đưa đến các ruột và cuối cùng bị đào thải ra ngoài cơ thể cùng với fucoidan.</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Q9. Liệu Fucoidan có hiệu quả với bệnh ung thư phổi không?</strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong>Theo báo cáo, những ca bệnh nhân nghiện rượu nặng bị ảnh hưởng nhiều đến phổi đã có nhiều biểu hiện cãi thiện chức năng của phổi nhanh chóng sau khi sử dụng fucoidan. Các kết quả này chắc chắn là do tác dụng nâng cao khả năng miễn dịch của fucoidan.</strong></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/ba-kha-nang-chinh-cua-fucoidan-voi-ung-thu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Công dụng thần kỳ từ tảo biển</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/cong-du%cc%a3ng-than-ky-tu-ta%cc%89o-bie%cc%89n/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/cong-du%cc%a3ng-than-ky-tu-ta%cc%89o-bie%cc%89n/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:48:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=380</guid>
		<description><![CDATA[Có lẽ bạn đã nhận ra tầm quan trọng việc ăn các loại thức ăn được chế biến từ rau củ quả nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu bị bỏ qua đó là thức ăn có nguồn gốc từ<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/cong-du%cc%a3ng-than-ky-tu-ta%cc%89o-bie%cc%89n/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">Có lẽ bạn đã nhận ra tầm quan trọng việc ăn các loại thức ăn được chế biến từ rau củ quả nhưng sẽ là thiếu sót lớn nếu bị bỏ qua đó là thức ăn có nguồn gốc từ tảo biển.</div>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Tảo biển không chỉ ít calori mà còn đảm bảo những lợi ích sức khoẻ hơn so với nhiều loại rau xanh khác trên đất liền. Những lợi ích sức khoẻ của rau tảo biển là gì và tại sao bạn nên ăn nhiều nó? Sau đây là những thông tin đáng quan tâm:</p>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;"><em>Tảo biển có công dụng chữa bệnh rất hiệu quả</em></p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cung cấp tối ưu các chức năng tuyến giáp</strong><br />
Tảo biển rất giàu thành phần khoáng chất i-ốt, nếu không có thứ khoáng chất này thì tuyến giáp sẽ không thể sản sinh đủ lượng nội tiết tố tuyến giáp, đóng vai trò rất quan trọng trong việc điều hoà sự trao đổi chất và duy trì cuộc sống. Với những người bị bệnh bướu cổ, việc ăn muối i-ốt không thôi chưa đủ, do đó phải tăng cường ăn thêm các loại tảo biển để cung cấp đủ lượng i-ốt ngăn ngừa bướu cổ. Bạn đang lo ngại về việc duy trì sức khoẻ tuyến giáp? Hãy thêm các loại rau tảo biển tươi sống kết hợp chế biến cùng với các loại thức ăn hàng ngày của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Cung cấp tối ưu các chức năng chống viêm sưng</strong><br />
Các loại tảo biển có màu nâu có chứa một chất sinh hoá được gọi là “Fucoidan” có các tính năng chống viêm sưng rất hiệu quả. Fucoidan có khả năng chế ngự phản ứng viêm sưng, do đó nó cũng đóng vai trò chịu trách nhiệm cho một loạt các bệnh kinh niên bao gồm cả căn bệnh ung thư. Do đó, ăn tảo biển rất tốt cho sức khoẻ của bạn.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Chức năng giải độc tố trong cơ thể</strong><br />
Một thành phần của tảo biển được gọi là “Alginate” đã được chứng minh là có hiệu quả trong việc điều trị việc phơi nhiễm với kim loại nặng và phóng xạ. “Alginate” có khả năng hàn gắn và tống khứ các loại kim loại độc ra khỏi cơ thể cũng như các chất phóng xạ, làm giảm khả năng gây ảnh hưởng thiệt hại cho ADN và các bệnh tật khác. Một trong những nguồn chứa dồi dào thành phần “Alginate” là tảo bẹ có bán rất nhiều tại các chợ thực phẩm hoặc siêu thị.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Ăn tảo biển làm giảm nguy cơ bệnh ung thư</strong><br />
Theo một cuộc nghiên cứu được tiến hành bởi Trường Y tế Cộng Đồng Harvard (Mỹ) thì bằng việc ăn các loại tảo biển có thể làm giảm nguy cơ gây bệnh ung thư vú ở phụ nữ thời kỳ hậu mãn kinh. Tảo biển có chứa rất nhiều thành phần “Lignan” có thể hàn gắn và khoá chặt các cơ quan nhận cảm Estrogen vào trong vú, giảm thiểu khả năng kích thích các mô vú. Ngoài ra chất Fucoidan có trong tảo bẹ cũng đóng vai trò can thiệp sâu nhằm ngăn ngừa sự sinh sôi của các tế bào gây bệnh ung thư vú.</p>
<p style="text-align: justify;">
<strong>Phòng ngừa bệnh tim mạch và cao huyết áp</strong><br />
Tảo biển có chứa nhiều thành phần Kali đóng vai trò rất quan trọng trong việc duy trì huyết áp bình thường. Khi huyết áp được duy trì trong phạm vi bình thường, thì áp lực sẽ ít tác động đến quả tim hơn và làm giảm nguy cơ gây ra bệnh tim mạch. Bạn có thể biết được tầm quan trọng của tảo đối với tim mạch do đó đừng do dự khi ăn tảo để bảo vệ sức khoẻ cho bạn và gia đình của mình.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/cong-du%cc%a3ng-than-ky-tu-ta%cc%89o-bie%cc%89n/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Rong biển với thai phụ nữ</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/rong-bien-voi-thai-phu-nu/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/rong-bien-voi-thai-phu-nu/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:46:21 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=376</guid>
		<description><![CDATA[Rong biển là thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin A trong rong biển cao gấp 2-3 lần so với carrot, hàm lượng canxi cao gấp 3 lần so với sữa bò và lượng vitamin B2 cao gấp<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/rong-bien-voi-thai-phu-nu/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Rong biển là thức ăn giàu chất dinh dưỡng. Hàm lượng vitamin A trong rong biển cao gấp 2-3 lần so với carrot, hàm lượng canxi cao gấp 3 lần so với sữa bò và lượng vitamin B2 cao gấp 4 lần so với trứng…Chất béo trong rong biển có tác dụng điều hòa lượng cholesterol trong máu, ngăn chặn bệnh cao huyết áp và tim mạch. Ngoài ra, trong rong biển còn chứa nhiều Iot, vitamin B2, DHA, và một số dưỡng chất khác cần thiết cho sức khỏe thai phụ.</p>
<div style="text-align: justify;">
<p>  <img alt="" src="http://bionet.vn/images/stories/xet%20nghiem%20adn%2026.jpg" width="384" height="235" /></p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><em><strong>Một số lợi ích của rong biển với thai phụ :</strong></em></p>
<p><strong>1. Ngăn ngừa chứng táo bón</strong><br />
Chất cellulose trong rong biển kích thích sự co bóp của ruột, đẩy nhanh quá trình bài tiết, giúp đi tiêu đều đặn. Đồng thời, cellulose còn giảm thiểu những chất gây<a title="xét nghiệm cancersafe" href="http://bionet.vn/dichvu/xet-nghiem-ung-thu-som.html">ung thư</a> đường ruột, phòng ngừa ung thư kết tràng và ung thư trực tràng. Rong biển rất tốt cho sức khỏe của thai phụ.</p>
<p><strong>2. Phòng chống dị tật thai</strong><br />
Một số nghiên cứu chứng minh, các chất dinh dưỡng có trong rong biển có tác dụng giúp ngăn ngừa khuyết tật bào thai. Axit align và alignic được tìm thấy trong nhiều loại rong biển, có chức năng ngăn chặn độc tố từ máu mẹ được vận chuyển vào bào thai.<br />
Ăn rong biển không chỉ giảm nguy cơ bị ung thư và còn tránh được những khiếm khuyết về <a title="xét nghiệm adn, xet nghiem adn" href="http://bionet.vn/">gene</a>. Các nhà khoa học Nhật Bản coi rong biển như vị thuốc chống phóng xạ và độc tố cho cơ thể.</p>
<p><strong>3. Đẹp da, đẹp tóc</strong><br />
Chất dinh dưỡng có trong rong biển có tác dụng giúp da khỏe, đẹp và tăng đàn hồi. Nhiều người mẹ chia sẻ, khi ăn rong biển, tình trạng mụn trứng cá và rạn da khi mang thai được giảm thiểu rõ rệt.<br />
Ăn rong biển cũng giúp cho móng và tóc được khỏe đẹp. Lý do vui là khi ấy, bạn không còn phải lo lắng chuyện dưỡng tóc trong thai kỳ hoặc nguy cơ ảnh hưởng từ thuốc dưỡng tóc đến bé.</p>
<p><strong>4. Ngăn ngừa chảy máu chân răng:</strong><br />
Vitamin C có trong rong biển là chất cần thiết cho sự trao đổi chất của tế bào, thúc đẩy sự hình thành collagen trong cơ thể, giúp ngăn chặn tình trạng chảy máu chân răng &#8211; dấu hiệu dễ gặp khi mang bầu.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong> 5. Diệt khuẩn, làm sạch máu</strong><br />
Thành phần quan trọng nhất có trong rong biển là fertile clement. Đây là chất có tác dụng điều tiết máu lưu thông, tiêu độc, loại bỏ các cặn bã có trong cơ thể. Thêm vào đó, nó còn là chất không thể thiếu của tuyến giáp trạng, nơi tiết ra hooc-môn sinh trưởng, giúp cơ thể phát triển. Chính vì lẽ đó mà phụ nữ có thai và trẻ em được khuyến khích ăn các thực phẩm làm từ rong biển.</p>
<p style="text-align: justify;"><strong>6. Giảm huyết áp</strong><br />
Trong rong biển hàm chứa một lượng chất khoáng rất phong phú. Thực tế, khoa học đã chứng minh rằng rong biển hấp thu từ nước biển hơn 90 loại khoáng chất với hàm lượng muối thấp và canxi cao. Chính vì lẽ đó mà rong biển là thực phẩm được ưu tiên hàng đầu đối với những người bị cao huyết áp.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/rong-bien-voi-thai-phu-nu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Công dụng của rong biển SARGASSUM</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/cong-dung-cua-rong-bien-sargassum/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/cong-dung-cua-rong-bien-sargassum/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:45:59 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=377</guid>
		<description><![CDATA[HẠN CHẾ TÁC HẠI CUẢ TIA XẠ VÀ HOÁ CHẤT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BẰNG RONG BIỂN  SARGASSUM   Việt Nam có nhiều loài rong biển, hiện đã tìm thấy gần 700 loài rong biển có kích thước lớn,<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/cong-dung-cua-rong-bien-sargassum/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><strong>HẠN CHẾ TÁC HẠI CUẢ TIA XẠ VÀ HOÁ CHẤT TRONG ĐIỀU TRỊ UNG THƯ BẰNG RONG BIỂN  SARGASSUM</strong></p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;">Việt Nam có nhiều loài rong biển, hiện đã tìm thấy gần 700 loài rong biển có kích thước lớn, trong đó họ rong biển Sargassum (hay còn gọi là Tảo Mơ) là loài có sản lượng tự nhiên cao nhất và thành phần loài phong phú nhất.</p>
<p style="text-align: justify;">
<em>Rong biển Sargassum </em>có khả năng tích luỹ hàng loạt các nguyên tố với hệ số tập trung cao, nồng độ của các nguyên tố này trong tro của chúng có thể gấp hàng vạn lần so với nước biển. Có 23 nguyên tố là Al, Si, Mg, Ca, Sr, Ba, Fe, V, Mor, Ti, Co, Ni, Cr, Sn, As, Bi, Cu, Pb, Zn, Ga, Be, Na và K.</p>
<div style="text-align: justify;">  <img alt="" src="http://bionet.vn/images/stories/xet%20nghiem%20adn%2030.jpg" width="446" height="335" /></div>
<p style="text-align: justify;">Những nghiên cứu của  P<em>hân viện Khoa học vật liệu  Nha Trang</em>  về hàm lượng trong rong biển Sargassum ở vùng Hòn Chồng, Nha trang năm 1995 cho thấy nguyên tố Mg có hàm lượng khá cao từ 2,92 đến 9,45 x 10-3g/g; sắt có hàm lượng cỡ 10-4, còn lại Cr, Mr, Co, Ag có hàm lượng cỡ 10-6. Ðặc biệt trong rong có chứa một lượng khá lớn nguyên tố Strontium (Sr), cỡ 10-3g/g từ nước biển với lượng tích tụ cao hơn khoảng 100 lần hàm lượng trong nước biển. Người ta còn phát hiện chất natri alginat chiết từ rong biển Sargassum có thể chứa được bệnh nhiễm phóng xạ vì chất này uống vào sẽ hấp thu Sr phóng xạ đã bị nhiễm trong cơ thể rồi thải ra ngoài.</p>
<p>Ngoài ra còn có một loại đường khác là mannitol ở trong vách tế bào có tác dụng trong chữa bệnh tiểu đường. Hàm lượng protein trong rong biển Sargassum chiếm từ 5 – 15% tổng lượng khoáng chiếm từ 20 – 40% bao gồm các nguyên tố cần thiết như iod có hàm lượng từ 0,08 đến 0,34% làm cho rong biển Sargassum có đặc tính có thể chữa bệnh bướu cổ.</p>
<p>Rong biển Sargassum còn có các phospho lipit dùng trong y dược và các hợp chất có hoạt tính sinh học khác được nhân dân ven biển dùng để nấu canh hay kho với thịt cá như một loại rau ,Vào mùa nóng ngư dân  nấu nước pha đường uống như một thứ nước giải nhiệt . Trong  Đông y Rong  biển Sargassum khô là một loài dược thảo. Chúng được ngâm vào nước nóng và uống như trà để chữa bệnh bướu cổ và cung cấp các nguyên tố vi lượng khác.</p>
<p>Từ lâu đời trong y văn cổ , rong biển đã được dùng đã được dùng để điều trị bướu cổ , làm mềm khối cứng , tan đờm… với một lưu ý là không dùng chung với vị Cam thảo do tính tương tác thuốc. Nhiều nghiên cứu khoa học trong thời gian gần đây cũng đã xác nhận, các  loại  rong biển có tác dụng phòng chống virus và<a title="xét nghiệm cancersafe" href="http://bionet.vn/dichvu/xet-nghiem-ung-thu-som.html"> ung thư</a>. Các chuyên gia y học đã phát hiện ra huyết dịch của những bệnh nhân ung thư mang tính axit, trong khi đó rong biển lại là thức ăn mang tính kiềm chứa nhiều canxi, vì thế, có tác dụng điều tiết và cân bằng độ axit và kiềm trong máu.</p>
<p>Lignans trong rong biển có khả năng ức chế sự hình thành và phát triển của các khối u, hạn chế các <a title="xét nghiệm cancersafe" href="http://bionet.vn/dichvu/xet-nghiem-ung-thu-som.html">tế bào ung thư</a> vào máu và di căn ung thư trên các phần khác của cơ thể. Ngoài ra, Lignans còn ngăn chặn sự tổng hợp estrogen trong các tế bào với hiệu quả tương tự như một số loại thuốc dùng trong trị hoá ung thư. Phụ nữ sau thời kì mãn kinh, các mô mỡ chính là nơi estrogen được tổng hợp, một lượng lớn chất chuyển hoá estrogen là những nhân tố chính gây ra bệnh ung thư  vú.</p>
<p>Chất cellulose có nhiều trong rong biển kích thích sự co bóp của ruột, đẩy nhanh quá trình bài tiết, hạ thấp nồng độ những chất có nguy cơ gây ung thư trong đường ruột, từ đó làm giảm mắc ung thư kết tràng và ung thư trực tràng.</p>
<p>Theo báo Telegraph dẫn một cuộc nghiên cứu mới đây, các loai rong biển cũng chứa nhiều thành phần hoạt chất sinh học giúp giảm lượng cholesterol, hạ huyết áp, tăng cường sự ngon miệng và thậm chí đánh văng những gốc phân tử tự do có thể gây <a title="xét nghiệm cancersafe" href="http://bionet.vn/dichvu/xet-nghiem-ung-thu-som.html">ung thư</a>.</p>
<p>Kết quả báo cáo được đăng tải trên chuyên san Hiệp hội Nghiên cứu Ung thư Mỹ vào tháng 3 phát hiện chiết xuất từ tảo có thể ngăn chặn sự tăng trưởng của các tế bào ung thư dẫn đến ung thư hạch bạch huyết.</p>
<p><em><strong>Vì vậy  rong biển Sargassum được dùng  hàng ngày cho những bênh nhân ung thư có chỉ định xạ trị để hạn chế tác dụng nhiễm xạ đối  với tế bào lành và đào thải nhanh chất phóng xạ ra ngoài cơ thể , hạn chế tới  mức tối thiểu những triệu chứng khó chịu do xạ trị và hoá chất trong quá trình <a title="xét nghiệm cancersafe" href="http://bionet.vn/dichvu/xet-nghiem-ung-thu-som.html">điều trị ung thư</a>. Hơn thế nữa rong biển Sargassum  kết hợp với một số thảo dược khác như một nguốn bổ sung khoáng chất và vi lượng rất cao cho cơ thể người  bệnh đã kiệt sức vì ung thư, nhanh chóng đào thải những chất độc sinh ra từ tế bào ung thư và hoá chất điều trị.</strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/cong-dung-cua-rong-bien-sargassum/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Nguy cơ bị ung thư ruột đối với nhân viên văn phòng</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/nguy-co-bi-ung-thu-ruot-doi-voi-nhan-vien-van-phong/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/nguy-co-bi-ung-thu-ruot-doi-voi-nhan-vien-van-phong/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:44:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=374</guid>
		<description><![CDATA[Do đặc thù của công việc, nhân viên văn phòng thường phải ngồi bàn làm việc lâu, ít đi lại. Đây là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều bệnh phát triển.    Theo một nghiên cứu tại<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/nguy-co-bi-ung-thu-ruot-doi-voi-nhan-vien-van-phong/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><strong>Do đặc thù của công việc, nhân viên văn phòng thường phải ngồi bàn làm việc lâu, ít đi lại. Đây là nguyên nhân tạo điều kiện thuận lợi cho nhiều bệnh phát triển.</strong></p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><img title="Nguy cơ bị ung thư ruột đối với nhân viên văn phòng ung thu 360" alt="kien thuc co ban Nguy cơ bị ung thư ruột đối với nhân viên văn phòng ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/MotGocLamViecCuaBkis2.jpg" width="450" height="311" /></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong>Theo một nghiên cứu tại Úc cho thấy những nhân viên văn phòng có thâm niên làm việc bàn giấy trên 10 năm sẽ có nguy cơ mắc ung thư ruột gấp đôi so với những người khác.<br />
Thậm chí các nhà khoa học còn tìm thấy rằng, không chỉ những người ít hoạt động thể chất trong cả ngày làm việc, mà cả những người chịu khó vận động trong những giờ giải lao đều có nguy cơ mắc khối u ruột cao gấp đôi.</p>
<p style="text-align: justify;">Hàng năm trên thế giới có khoảng 40.000 người bị ung thư ruột và có hơn 16.000 người chết vì căn bệnh này. Hàng nghìn người tử vong sau khi được chẩn đoán bệnh không lâu, bởi họ đã bỏ qua những dấu hiệu bệnh báo trước, và chỉ tìm đến bác sĩ khi căn bệnh đã đi vào giai đoạn cuối.</p>
<p style="text-align: justify;">Ung thư ruột còn là căn bệnh bắt nguồn từ lối sống ít vận động, từ chế độ ăn nhiều thịt đỏ, nhiều chất béo, uống nhiều rượu. Gen cũng góp một phần nhỏ gây nên căn bệnh nguy hiểm này.</p>
<h2 style="text-align: justify;"><strong>Lời khuyên phòng tránh các bệnh nguy hiểm :</strong></h2>
<ul style="text-align: justify;">
<li>Có chế độ ăn uống nghỉ ngơi hợp lý.</li>
<li>Thường xuyên đi lại, vận động, tránh hiện tượng ngồi một chỗ suốt giờ làm việc.</li>
<li>Tạo môi trường làm việc sạch sẽ, thoáng mát và trong lành.</li>
<li>Nên uống nhiều nước</li>
<li>Ngồi lâu dễ mắc các bệnh về xương, cột sống. Vậy nên để tránh ảnh hưởng không tốt đến cột sống, bạn nên tập ngồi đúng tư thế.</li>
<li>Cần xây dựng một kế hoạch làm việc, nghỉ ngơi hợp lý.</li>
</ul>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/nguy-co-bi-ung-thu-ruot-doi-voi-nhan-vien-van-phong/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ai dễ bị ung thư dạ dày?</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/ai-de-bi-ung-thu-da-day/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/ai-de-bi-ung-thu-da-day/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:43:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=372</guid>
		<description><![CDATA[Nhiều trường hợp bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hoá đến khám điều trị ở các phòng mạch tư, phòng khám đa khoa trong một thời gian dài mà không được chụp hoặc soi dạ dày. Đến khi<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/ai-de-bi-ung-thu-da-day/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><strong>Nhiều trường hợp bệnh nhân có triệu chứng rối loạn tiêu hoá đến khám điều trị ở các phòng mạch tư, phòng khám đa khoa trong một thời gian dài mà không được chụp hoặc soi dạ dày. Đến khi phát hiện ung thư dạ dày thì đã quá muộn không còn cách cứu vãn.</strong></p>
</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;"><strong> </strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><img title="Ai dễ bị ung thư dạ dày? ung thu 360" alt="phat hien benh ung thu Ai dễ bị ung thư dạ dày? ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/ung-thu-da-day.jpg" width="400" height="320" /><br />
</strong></div>
<h2 style="text-align: justify;">Nam giới mắc bệnh cao gấp ba lần nữ giới</h2>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Ung thư dạ dày là loại ung thư xuất phát từ thành dạ dày. Đa số trường hợp là loại ung thư biểu mô tuyến của niêm mạc dạ dày và một số ít trường hợp thuộc loại u ác lympho, u ác cơ trơn. Ung thư dạ dày thường gặp nhất ở đường tiêu hoá và đứng hàng thứ ba trong các loại ung thư ở nam giới.</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Nam giới bị bệnh này nhiều hơn nữ giới gấp ba lần. Hiện chưa có lời giải đáp vì sao có chênh lệch này. Tuổi mắc bệnh thường sau 50, nhưng thực tế gần đây cho thấy khá nhiều trường hợp xảy ra ở người trẻ hơn. Tỷ lệ mắc bệnh ở khu vực Hà Nội cao hơn TP.HCM. Trên thế giới, Nhật là nước có tỷ lệ bệnh này rất cao (69 ca/100.000 dân mỗi năm) nhưng người Nhật phát hiện bệnh rất sớm nhờ nội soi tầm soát nên khả năng điều trị khỏi bệnh rất tốt. Tỷ lệ mắc bệnh ở nước ta là 20 – 45 ca/100.000 dân mỗi năm, nhưng thường là phát hiện trễ nên khả năng điều trị khỏi bệnh thấp.</div>
<h2 style="text-align: justify;">Thủ phạm gây ung thư dạ dày</h2>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Nhiễm khuẩn Helicobacter pylori được cho là nguyên nhân chính của bệnh ung thư dạ dày, mặc dù vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ trong mối liên hệ nhân quả này. Không nên vội hoảng hốt khi bị nhiễm Helicobacter pylori, bởi ung thư dạ dày chỉ phát sinh trong khoảng 2% số người bị nhiễm và phải qua nhiều giai đoạn viêm nhiễm ở dạ dày nhưng không được điều trị trong thời gian dài. Ngoài ra, người ta còn nghi ngờ nhiều yếu tố nguy cơ khác như người có nhóm máu A, yếu tố di truyền, viêm dạ dày thể teo, ăn nhiều muối, thức ăn xào – rán – nướng – chả – hun khói…</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Ở giai đoạn sớm, người bệnh có thể không có biểu hiện gì hoặc có những triệu chứng không đặc hiệu về tiêu hoá như: chậm tiêu, đầy bụng, ợ hơi, đau không rõ ràng vùng trên rốn, chán ăn… Khám bụng không thể phát hiện bất thường. Ở giai đoạn này, chỉ có nội soi dạ dày và sinh thiết qua nội soi là phương tiện hữu hiệu nhất để xác định bệnh. Ở giai đoạn tiến triển, người bệnh cảm thấy đau âm ỉ vùng trên rốn, chán ăn, rất khó tiêu, sụt cân, mệt mỏi, chóng mặt, xanh xao, có khi tiêu phân đen. Khám bụng có thể sờ thấy khối u vùng trên rốn, có thể không. Nội soi dạ dày hoặc chụp X-quang dạ dày dễ dàng phát hiện khối u. Ở giai đoạn muộn, bệnh nhân suy kiệt, thiếu máu nặng, phù. Đau vùng trên rốn trở nên dai dẳng, nôn ói, nôn ra máu. Khám có thể sờ rõ khối u trên rốn, bụng báng, u di căn lổn nhổn ở bụng. Bệnh ở giai đoạn này thì không còn phương cứu chữa.</div>
<h2 style="text-align: justify;">Phát hiện sớm, chữa khỏi có thể đạt 100%</h2>
<div style="text-align: justify;">Để phát hiện sớm ung thư dạ dày</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Phải tầm soát bằng chụp X-quang dạ dày hoặc nội soi dạ dày thì mới có thể phát hiện được ung thư dạ dày giai đoạn sớm. Nội soi phát hiện thương tổn sớm tốt hơn X-quang. Hiện ngành y tế vẫn chưa đáp ứng được việc tầm soát với tất cả mọi người dân, kể cả ở các nước phát triển. Người có yếu tố nguy cơ là đối tượng cần phải tầm soát như: bị viêm teo dạ dày hoặc thiếu máu ác tính, đã cắt bán phần dạ dày, polyp dạ dày, trong gia đình có người bị ung thư đường tiêu hoá, có triệu chứng rối loạn tiêu hoá thường xuyên. Nếu có điều kiện thì mọi người trên 50 tuổi nên nội soi dạ dày tầm soát trong đợt kiểm tra sức khoẻ định kỳ.</div>
<h2 style="text-align: justify;">Điều trị ung thư dạ dày</h2>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Phương pháp điều trị ung thư dạ dày là phẫu thuật cắt bỏ và kết hợp hoá trị sau mổ. Tuỳ giai đoạn bệnh, phẫu thuật có thể tiến hành qua nội soi đường miệng, nội soi ổ bụng hoặc phẫu thuật mở bụng. Ở giai đoạn sớm, ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc, có thể cắt bỏ một diện niêm mạc chứa thương tổn qua nội soi đường miệng mà không phải cắt một phần dạ dày. Ở giai đoạn ung thư đã xâm nhập các lớp của thành dạ dày, phẫu thuật thích hợp là cắt bán phần hoặc toàn bộ dạ dày (tuỳ vị trí ung thư ở phần dưới hay phần trên dạ dày) kèm theo là nạo vét các hạch xung quanh dạ dày. Phẫu thuật này có thể thực hiện qua nội soi ổ bụng hoặc mổ mở, tuỳ khả năng trang bị và trình độ kỹ thuật. Ở giai đoạn muộn hơn, ung thư đã ăn lan qua các bộ phận khác, không thể cắt bỏ, phẫu thuật chỉ giải quyết tạm bợ bằng cách nối vị tràng hoặc thậm chí chỉ đặt ống vào ruột non để nuôi ăn. Sau mổ, đối với các trường hợp có di căn hạch hoặc ung thư xâm lấn qua thành dạ dày, cần sử dụng hoá trị hỗ trợ. Có nhiều loại thuốc hoá trị sử dụng đơn độc hoặc phối hợp do các chuyên gia hoá trị chỉ định, dựa vào đặc điểm và giai đoạn của ung thư. Xạ trị hỗ trợ cũng có thể được chỉ định cho trường hợp khối u đã xâm lấn và di căn hạch.</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">Tỷ̉ lệ chữa khỏi ung thư dạ dày có thể đạt 100% nếu phát hiện ở giai đoạn 0 (ung thư chỉ khu trú ở lớp niêm mạc). Đối với ung thư giai đoạn 1 (chưa di căn hạch, chưa qua hết thành dạ dày), tỷ lệ này đạt trên 80%. Ở các giai đoạn tiến triển hơn, tỷ lệ này sẽ giảm nhiều. Một điểm cần lưu ý, bác sĩ cho dù có nhiều kinh nghiệm cũng không thể khám xác định bệnh dạ dày chỉ bằng lâm sàng, mà phải dùng X-quang hoặc nội soi mới có thể định bệnh và điều trị thích hợp. Vì vậy, lời khuyên cho người bệnh có biểu hiện về tiêu hoá là cần phải được nội soi dạ dày trước khi điều trị.TS.BS ĐẶNG TÂM,</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">TRƯỞNG KHOA NGOẠI TỔNG QUÁT,</div>
<div id="_mcePaste" style="text-align: justify;">BỆNH VIỆN TRIỀU AN, TP.HCM</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/ai-de-bi-ung-thu-da-day/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ung thư gan: Nhiều mối nguy hiểm tiềm ẩn</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/ung-thu-gan-nhieu-moi-nguy-hiem-tiem-an/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/ung-thu-gan-nhieu-moi-nguy-hiem-tiem-an/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:42:00 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=370</guid>
		<description><![CDATA[Mỗi năm cả nước có trung bình hơn 10.000 trường hợp phát hiện ung thư gan, trong đó hơn 80% được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển. Ung thư gan ít biểu hiện nên đa phần người bệnh đều<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/ung-thu-gan-nhieu-moi-nguy-hiem-tiem-an/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<div style="text-align: justify;">
<p><strong>Mỗi năm cả nước có trung bình hơn 10.000 trường hợp phát hiện ung thư gan, trong đó hơn 80% được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển. Ung thư gan ít biểu hiện nên đa phần người bệnh đều phát hiện muộn. Thông thường từ khi phát hiện bệnh, bệnh nhân chỉ có thể sống được thêm từ 1-6 tháng. Tuy nhiên ung thư gan vẫn có thể kiểm soát, nếu được phát hiện sớm.</strong></p>
</div>
<p style="text-align: justify;"><strong>Mỗi năm cả nước có trung bình hơn 10.000 trường hợp phát hiện ung thư gan, trong đó hơn 80% được chẩn đoán ở giai đoạn tiến triển. Ung thư gan ít biểu hiện nên đa phần người bệnh đều phát hiện muộn. Thông thường từ khi phát hiện bệnh, bệnh nhân chỉ có thể sống được thêm từ 1-6 tháng. Tuy nhiên ung thư gan vẫn có thể kiểm soát, nếu được phát hiện sớm.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><img title="Ung thư gan: Nhiều mối nguy hiểm tiềm ẩn ung thu 360" alt="tu van hoi dap benh ung thu Ung thư gan: Nhiều mối nguy hiểm tiềm ẩn ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/ung-thu-gan1-300x225.jpg" width="300" height="225" /><br />
</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><em> </em></p>
<p style="text-align: justify;">Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với bác sĩ Nguyễn Đình Song Huy, Trưởng khoa U gan, Bệnh viện Chợ Rẫy (TP Hồ Chí Minh).<br />
<em><strong><br />
Bác sĩ có thể chia sẻ về thực trạng bệnh ung thư gan tại Việt Nam?</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Ung thư tế bào gan nguyên phát (gọi tắt là ung thư gan) là một bệnh lý khá phổ biến tại Việt Nam hiện nay, đứng thứ ba trong số các ung thư thường gặp nhất và là nguyên nhân gây tử vong đứng thứ hai trong số các bệnh về gan. Tại Bệnh viện Chợ Rẫy, trong năm 2009, chúng tôi đã khám và điều trị cho hơn 5.000 bệnh nhân bị căn bệnh này. Trong 2 tuần lễ đầu năm 2010, chúng tôi tiếp nhận 97 bệnh nhân mới phát hiện, như vậy trung bình mỗi ngày chúng tôi tiếp nhận khoảng 10 bệnh nhân mới phát hiện ung thư gan đến từ khu vực phía Nam.<br />
<em><strong><br />
Được biết phần lớn các bệnh nhân ung thư gan ở nước ta chỉ được phát hiện bệnh ở giai đoạn ung thư tiến triển, chỉ sống được 3-6 tháng. Xin bác sĩ cho biết tại sao bệnh nhân thường phát hiện bệnh trễ đến như vậy?</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Gan được bao bọc bởi một lớp màng bụng rất mỏng gọi là bao gan. Chỉ khi nào lớp bao gan này bị căng lên một cách đột ngột hay quá mức thì mới gây cảm giác đau ở vùng dưới sườn bên phải. Bệnh nhân chỉ có cảm giác đau ở vùng dưới sườn bên phải khi các khối ung thư nằm trên bề mặt gan và phát triển nhanh hoặc các khối ung thư phát triển quá lớn. Tuy nhiên, thông thường thì gần như không có triệu chứng gì. Ngoài ra, tại Việt Nam cũng cần lưu tâm đến là vấn đề tầm soát bệnh. Ung thư gan liên quan chặt chẽ với viêm gan siêu vi B hay C, mà tỷ lệ nhiễm virút viêm gan B hay C ở Việt Nam là khá cao. Nhiều bệnh nhân đã biết bị viêm gan siêu vi B hay C, hoặc đang điều trị viêm gan siêu vi B hay C tại các cơ sở y tế trong thời gian dài nhưng không được các bác sĩ cho làm siêu âm để tầm soát ung thư cho đến khi có triệu chứng hoặc tình cờ làm siêu âm thì mới phát hiện ra và có không ít trường hợp khi được phát hiện thì đã quá chỉ định điều trị. Tình trạng tương tự cũng xảy ra ở các bệnh nhân được điều trị xơ gan do các nguyên nhân khác như do rượu… Do đó, các bệnh nhân có yếu tố nguy cơ như nhiễm virút viêm gan B hay C, xơ gan… nên làm siêu âm bụng 3 tháng hoặc 6 tháng/lần để phát hiện sớm ung thư gan (nếu có).<br />
<em><strong><br />
Bác sĩ có thể cho biết những phương pháp nào đang được sử dụng phổ biến tại Việt Nam trong việc điều trị ung thư gan?</strong></em></p>
<p style="text-align: justify;">Khác với các loại ung thư khác, hóa trị và xạ trị hầu như không có tác dụng gì đối với ung thư gan. Hiện nay, với căn bệnh này, các phương pháp điều trị chủ yếu được sử dụng tại Việt Nam là phẫu thuật cắt gan, đốt nhiệt cao tần (RFA) và hóa dầu thuyên tắc mạch hay còn gọi là nút mạch (TOCE hay TACE). Phẫu thuật cắt gan là phẫu thuật cắt bỏ phần gan có mang khối ung thư. Đốt nhiệt cao tần (RFA) là thủ thuật dùng sóng có tần số như tần số của sóng radio truyền qua một cây kim cắm vào khối ung thư, tạo hiệu ứng nhiệt tại chỗ làm cho khối u bị phá hủy. Thủ thuật này được áp dụng cho các khối u có kích thước khoảng 3-4cm, số lượng u không quá 3 u, và vị trí các khối u có thể tiếp cận được dưới sự hướng dẫn của siêu âm hay CT scan. Còn hóa dầu thuyên tắc mạch hay nút mạch (TOCE hay TACE) là phương pháp cắt nguồn máu đến nuôi khối ung thư khiến cho khối ung thư bị thiếu máu nuôi và chết khô (từ chuyên môn gọi là hoại tử đông). Phương pháp này được áp dụng cho các khối ung thư được nuôi dưỡng bằng các nhánh của động mạch gan và đã quá chỉ định phẫu thuật. Ngoài ra bệnh nhân ở giai đoạn ung thư tiến triển có thể sử dụng hoạt chất Sorafenib (tên biệt dược là Nexavar), để làm chậm lại quá trình phát triển của khối u.<br />
<strong><em><br />
Cảm ơn bác sỹ về cuộc trao đổi!</em></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Lê Minh<br />
</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/ung-thu-gan-nhieu-moi-nguy-hiem-tiem-an/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư</title>
		<link>http://sanphamfucoidan.com/mot-so-thuc-pham-giup-ngua-ung-thu/</link>
		<comments>http://sanphamfucoidan.com/mot-so-thuc-pham-giup-ngua-ung-thu/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 14 Jan 2014 15:41:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator>admin</dc:creator>
				<category><![CDATA[Shop]]></category>
		<category><![CDATA[Sức khỏe và đời sống]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://sanphamfucoidan.com/?p=368</guid>
		<description><![CDATA[Ung thư được xem là một trong những căn bệnh nan y gây tử vong hàng đầu hiện nay trên thế giới. Với tỷ lệ điều trị thành công bệnh ung thư hiện nay còn rất thấp, nhiều người tự<br/><a href="http://sanphamfucoidan.com/mot-so-thuc-pham-giup-ngua-ung-thu/"><span class="button active fl-r"><span>READ MORE</span></span></a><br/>]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong>Ung thư được xem là một trong những căn bệnh nan y gây tử vong hàng đầu hiện nay trên thế giới. Với tỷ lệ điều trị thành công bệnh ung thư hiện nay còn rất thấp, nhiều người tự hỏi liệu có cách nào có thể phòng ngừa hiệu quả bệnh ung thư trước khi nó xảy ra? Bên cạnh môi trường sống trong lành, chế độ thực phẩm với công dụng ngăn ngừa ung thư hiệu quả đang là lựa chọn hữu ích đối với tất cả mọi người.</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<h2 style="text-align: justify;">Dâu tây</h2>
<p style="text-align: justify;"><img title="Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" alt="phong chong ung thu Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/images512328_dau_tay_11.jpg" width="430" height="330" /><br />
Dâu tây không chỉ là loại quả giàu vitamin và tác dụng làm đẹp da, mà còn là loại quả có chứa nhiều thành phần axits ellagic và các loại chất chống ôxy hoá polyphenol. Các thành phần này có tác dụng ức chế sự phát triển của các tế bào ung thư, ngăn chặn sự biến đổi của các tế bào và tăng cường sức đề kháng cho các tế bào trong cơ thể. Dâu tây được xem là loại quả giúp giảm béo và ngăn ngừa ung thư rất tốt.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Sôcôla</h2>
<p style="text-align: justify;"><img title="Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" alt="phong chong ung thu Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/socola1201091.jpg" width="400" height="400" /><br />
Từ lâu, hạt ca cao đã được biết đến là loại hạt có giá trị và rất tốt cho sức khoẻ. Người dân địa phương vùng Nam Mỹ coi  côca  là loại hạt dùng để chữa bệnh và cây côca được trồng rất nhiều ở vùng này. Sôcôla đen có chứa tới 70% ca cao, không chỉ là loại thực phẩm có vị rất hấp dẫn mà còn có chứa rất nhiều chất chống ôxy hoá và các polyphenols hữu ích. Ngoài ra trong sôcôla còn có chứa thành phần có tên gọi catechin (là thành phần có chứa nhiều trong trà xanh có tác dụng phòng bệnh tim mạch, đột quỵ và ung thư.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Gừng và nghệ</h2>
<p style="text-align: justify;">Gừng và nghệ không chỉ là gia vị trong chế biến thực phẩm mà còn là vị thuốc có nhiều tác dụng hiệu quả. Các nghiên cứu về tác dụng của gừng cho thấy, trong gừng có chứa nhiều thành phần chống nhiễm khuẩn có tác dụng làm chậm quá trình phát triển của tế bào ung thư. Trong khi đó, các thành phần trong nghệ – một loại củ thuộc họ gừng còn có khả năng tiêu diệt các tế bào ung thư. Thành phần này có tên khoa học là curcumin.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Trà xanh</h2>
<p style="text-align: justify;"><img title="Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" alt="phong chong ung thu Một số thực phẩm giúp ngừa ung thư ung thu 360" src="http://i1233.photobucket.com/albums/ff389/YeuMayTinh/301110traxanh11.jpg" width="450" height="338" /><br />
Nghiên cứu về các tác dụng của trà xanh, các nhà khoa học đều khẳng định trà xanh rất có lợi cho sức khoẻ. Uống một đến 2 tách trà xanh nóng hoặc lạnh mỗi ngày có thể giúp cơ thể hấp thụ một lượng lớn epigallocatechin gallate (EGCG) và catechins – đều là các thành phần giúp ngăn ngừa nguy cơ mắc ung thư, đặc biệt EGCG còn có tác dụng làm chậm sự phát triển của tế bào ung thư dạ dày và ung thư phổi. Nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ và Nhật Bản đều khẳng định, giá trị phòng ung thư của trà xanh và tác động chống lão hoá, chống nhiễm khuẩn của loại lá trà này.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Vitamin D</h2>
<p style="text-align: justify;">Các thực phẩm có chứa vitamin D đều rất tốt cho sức khoẻ, đồng thời có tác dụng phòng ngừa bệnh ung thư. Rất nhiều nghiên cứu về tác dụng của vitamin D đối với cơ thể con người đã cho thấy tác dụng tăng cường hệ miễn dịch, giảm nguy cơ mắc bệnh đường ruột và ung thư vú. Vitamin D có thể được hấp thụ qua da khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, song theo các nhà khoa học nên bổ sung vitamin D cho cơ thể tốt nhất thông qua các loại thực phẩm như cá hồi, cá mòi, cá thu và nhiều loại cá biển khác.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Thực phẩm chứa folate</h2>
<p style="text-align: justify;">Các nghiên cứu về tác dụng của các loại vitamin đã cho thấy: Axit folic hay còn gọi là vitamin B9 là thành phần vitamin duy nhất trong nhóm vitamin có tác dụng ngăn ngừa ung thư. Khi cơ thể bị thiếu folate, hệ miễn dịch bị suy giảm và nguy cơ mắc ung thư tăng cao hơn bình thường. Do vậy, các chuyên gia dinh dưỡng luôn khuyến cáo cần bổ sung đầy đủ vitamin B9 cho cơ thể để ngăn ngừa ung thư. Thực phẩm giàu folate bao gồm các loại rau xanh, các loại đậu hạt rất tốt cho sức khoẻ.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Rau cải</h2>
<p style="text-align: justify;">Một số nghiên cứu của các nhà khoa học Mỹ đã chỉ ra rằng: Các loại rau thuộc họ cải gồm cải xanh, cải bắp, xúp lơ, củ cải, cải bó xôi…. có chứa nhiều thành phần dinolylmethane, sulforaphane và element selenium là các thành phần chống lại quá trình ung thư và biến đổi tế bào trong cơ thể.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra, trong các loại cải bó xôi, củ cải, cà rốt và cà chua… còn có chứa rất nhiều beta carotene, lutein và zeaxanthin… có tác dụng ức chế sự phát triển của ung thư. Đây cũng là các thực phẩm giàu folate.</p>
<h2 style="text-align: justify;">Rượu vang đỏ</h2>
<p style="text-align: justify;">
<p style="text-align: justify;">Mặc dù uống nhiều rượu rất có hại cho sức khoẻ, song một chút rượu vang đỏ từ trái nho lại có chứa rất nhiều thành phần resveratrol (có trong vỏ quả nho) là thành phần ngăn ngừa nguy cơ phát triển bệnh tim mạch và ung thư rất hiệu quả. Các nghiên cứu dinh dưỡng học đã chỉ rõ, uống một chút rượu vang đỏ mỗi ngày rất tốt cho hệ tim mạch, đông thời có thể ngăn ngừa các bệnh ung thư gan, ung thư vú và ung thư dạ dày.</p>
<p style="text-align: justify;">Theo Sức Khỏe Đời Sống</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://sanphamfucoidan.com/mot-so-thuc-pham-giup-ngua-ung-thu/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
